Lâu lắm rồi, ở phía tây Đại Chu có một thung lũng nhỏ tên là Tây Lăng.
Nơi ấy nằm lọt giữa những dãy núi xanh quanh năm phủ sương, phía bắc có một dòng suối trong đến mức người ta có thể nhìn thấy từng viên sỏi trắng nằm im dưới đáy, phía nam là những thửa ruộng nối tiếp nhau đến tận chân đồi. Mùa đông ở Tây Lăng thường đến rất sớm, nhưng mùa xuân lại chậm chạp vô cùng, giống một vị khách đã đứng ngoài cổng từ lâu mà vẫn còn mải phủi tuyết trên vai, nhất định không chịu bước vào nhà.
Người Tây Lăng không cần nhìn lịch để biết xuân đã về.
Họ nhìn ngọn khói bay lên từ những mái bếp. Mùa đông, khói nặng và xám, vừa rời khỏi ống khói đã bị gió lạnh ép xuống mái ngói; đến khi từng sợi khói bắt đầu nhẹ đi, mỏng như tơ, lững lờ bay thẳng lên nền trời xanh nhạt, những người già ngồi sưởi bên cửa mới chống gối đứng dậy, bảo con cháu mang cuốc ra mài.
Bởi khi ấy, đất đã mềm, nước dưới khe đã chịu lên tiếng, những chồi non trên hàng liễu bắt đầu tách lớp vỏ nâu cứng cáp để ló ra một chút màu xanh. Chỉ ít ngày nữa thôi, ngọn gió đầu tiên của mùa xuân sẽ vượt qua những đỉnh núi phía bắc, mang theo mùi tuyết tan, cỏ ướt cùng tiếng cánh chim trở về Tây Lăng.
Nhà ta nằm ở cuối làng, nơi con đường đất hẹp dần rồi biến mất bên một hàng liễu già. Sau nhà có một khoảng sân nhỏ, một giếng nước, một chuồng gà và cây mận năm nào cũng nở hoa trước khi kịp mọc lá. Đi thêm một quãng nữa là ruộng hoa của nhà họ Tạ.
Cả Tây Lăng chỉ có nhà ta trồng anh túc.
Nghe phụ thân kể, ruộng hoa ấy đã có từ đời cụ tổ, nhưng cụ tổ học nghề từ ai, hạt giống đầu tiên được đem về từ đâu thì chẳng còn người nào biết. Nhà họ Tạ cứ đời này nối đời khác gieo hạt, chăm cây, đợi hoa tàn, quả kết rồi thu lấy phần dược liệu đem bán cho hiệu thuốc dưới trấn.
Cũng giống như người họ Trương trong làng biết đóng giày, người họ Lưu biết làm đậu phụ, còn người họ Vương quanh năm đánh cá trên sông, nhà họ Tạ chúng ta chỉ biết trồng hoa.
Chẳng ai từng nghĩ đến chuyện đổi nghề.
Có lẽ bởi đời người vốn không dài. Học cho thật giỏi một việc đã đủ dùng hết mấy chục năm, còn chuyện ngoài việc ấy ra mình có thể làm gì, phần lớn người ta chỉ nhớ tới khi biến cố đã đứng ngay trước cửa.
Dân làng thường bảo nghề nhà ta nhàn hạ.
Không phải dầm chân dưới nước cấy lúa, không phải gánh phân lên nương bón ngô, chỉ cần gieo một nắm hạt xuống đất, đợi hoa nở thật đẹp, cuối vụ bán lấy bạc là xong. Những người nói câu ấy thường chưa từng bước chân vào ruộng hoa, nên không biết mỗi cây non vừa nhú đều phải che khỏi sương muộn, không biết một đêm gió lớn có thể làm nghiêng cả luống cây, càng không biết cỏ dại ở Tây Lăng khỏe đến mức chỉ cần quay lưng đi uống một ngụm nước, khi trở lại đã tưởng như chúng mọc cao thêm nửa tấc.
Hoa nở cũng chưa phải lúc được nghỉ.
Hai cha con ta vẫn phải nhổ cỏ, xới đất quanh gốc, kéo nước từ giếng lên tưới từng luống, lại phải chăm sao cho cây đủ khỏe mà kết quả. Đợi những cánh hoa mỏng manh rụng hết, quả già dần dưới nắng, thân cây thôi mềm, công sức suốt mấy tháng mới thật sự nằm yên trong tay người trồng.
Nhưng người trong làng không để tâm đến những chuyện ấy.
Họ chỉ nhìn thấy mỗi cuối vụ, xe ngựa của hiệu thuốc dưới trấn dừng trước cửa nhà ta rồi chở từng bao dược liệu đi. Thế là có người vừa vo gạo vừa bảo nhà họ Tạ năm nay lại kiếm được một khoản; có người đứng bên giếng nói trồng mấy thứ hoa đẹp mắt quả nhiên sung sướng hơn cấy lúa; lại có người cười nhạt, bảo hoa mà không bán được thì cả nhà chỉ còn nước ôm nhau ngửi hương cho no bụng.
Những câu ấy theo gió bay đến tai phụ thân.
Ông chỉ gõ đất khỏi lưỡi cuốc rồi bảo ta:
“Ngày mai nhớ mang thêm một vò nước xuống ruộng.”
Ta từng hỏi vì sao ông không nói cho họ biết nghề trồng hoa chẳng nhàn hơn nghề nào.
Phụ thân nhìn ta như thể ta vừa hỏi tại sao gà không biết bơi.
“Nói xong thì cỏ trong ruộng tự nhổ được à?”
Ta nghĩ thấy cũng phải, từ đó không hỏi nữa.
Nhà ta sống khá hơn một vài nhà trong làng, nhưng cũng chỉ khá hơn một chút. Mái ngói dột vẫn phải đợi hết vụ mới sửa, đôi giày của ta rách mũi thì phụ thân dùng chỉ gai khâu lại, còn chiếc áo bông của ông đã vá đến lần thứ sáu mà ông vẫn bảo mặc thêm hai mùa đông nữa cũng chẳng sao.
Có năm hoa mất giá, tiền bán cả ruộng chỉ vừa đủ mua gạo, đóng thuế và để dành giống cho vụ sau. Có năm mưa nhiều, rễ cây thối gần hết, hai cha con phải moi từng gốc còn sống đem sang chỗ đất cao hơn trồng lại.
Thế nhưng đến mùa gieo hạt, phụ thân vẫn xắn tay áo bước xuống ruộng, còn ta vẫn xách chiếc giỏ tre đã sứt một nan đi theo sau.
Bởi ngoài trồng hoa, chúng ta chẳng biết làm gì khác.
Mà trên đời, biết mình phải làm gì vào sáng hôm sau đôi khi cũng đã là một điều may mắn.
Mùa xuân năm ta mười bảy tuổi bắt đầu chẳng khác những năm trước.
Một đêm nọ, gió phương bắc bỗng đổi chiều. Nó len qua khe cửa, lay tấm rèm vải trước giường ta, mang theo mùi đất ẩm và chút hơi lạnh cuối cùng còn sót lại trên núi. Sáng hôm sau, lớp băng mỏng trên miệng chum đã tan, con gà trống già trong sân cất tiếng gáy sớm hơn thường lệ, còn cây mận bên giếng chỉ sau một đêm đã đính đầy những nụ trắng nhỏ.
Phụ thân đứng ngoài hiên, chống tay lên đầu gối một lúc mới cúi xuống xỏ giày.
Gần đây chân ông thường đau khi trời trở lạnh. Ông không nói, nhưng mỗi lần đứng lên đều phải vịn vào cột gỗ. Ta lặng lẽ lấy chiếc cuốc nhẹ đặt bên chân ông, còn chiếc nặng hơn thì vác lên vai mình.
Ông liếc qua.
Ta cúi đầu cột lại dây giày, giả vờ không thấy.
Phụ thân cũng chẳng nói gì, chỉ cầm chiếc cuốc nhẹ đi trước.
Con đường xuống ruộng còn đọng nước. Đôi dép cỏ của ta chẳng mấy chốc đã dính đầy bùn, mỗi bước đi đều phát ra tiếng lép nhép. Trên hàng liễu ven đường, những chồi non vừa hé mở, xanh nhạt đến mức tưởng như một cơn gió mạnh cũng có thể thổi bay.
Khi hai cha con đến đầu ruộng, mặt trời vừa nhô khỏi đỉnh núi.
Những luống hoa kéo dài trước mắt, thân cây xanh thẫm còn đẫm sương, nụ hoa tròn tròn cúi xuống như đang ngủ. Lác đác giữa ruộng đã có vài bông nở sớm, cánh mỏng màu đỏ rung lên trong nắng.
Người ngoài nhìn thấy thường đứng ngắm hồi lâu.
Người trồng hoa thì không có thì giờ ngắm.
Ta đặt vò nước xuống bờ, xắn tay áo rồi bước vào giữa hai luống cây. Cỏ dại sau mấy ngày ấm lên đã mọc kín quanh gốc. Ta vừa cúi xuống nhổ được một nắm thì trên trời bỗng vang lên tiếng cánh chim.
Ta ngẩng đầu.
Phía chân trời, nơi những đỉnh núi vẫn còn vương tuyết, có một vệt trắng đang chậm rãi trôi về phía Tây Lăng. Ban đầu nó giống một dải mây bị gió xé rời, nhưng khi đến gần hơn, dưới ánh nắng đầu xuân lần lượt hiện ra những đôi cánh dài, những chiếc cổ thanh mảnh và những thân chim trắng đến mức tưởng như vừa được gột rửa trong tuyết.
Phụ thân chống hai tay lên cán cuốc, nheo mắt nhìn.
Ông đưa một ngón tay lên, chậm rãi đếm từng bóng trắng đang lượn qua bầu trời.
“Một…”
Gió lướt qua ruộng, những nụ hoa đồng loạt cúi xuống.
“Hai…”
Đàn hạc bay thấp hơn, cánh của chúng bắt sáng, lóe lên rồi dịu xuống giữa khoảng trời xanh.
“Ba…”
Ta đứng bên cạnh, kiên nhẫn đợi.
Phụ thân đếm rất chậm, như thể chỉ cần lơ đãng một chút, một con hạc sẽ thừa lúc ấy mà lẩn vào giữa đàn.
Đến cuối cùng, ông mới gật đầu.
“Mười hai.”
Ông nhìn theo vệt trắng đang bay về phía hồ nước cuối thung lũng, đến khi những cánh chim khuất sau rặng cây mới cúi xuống, dùng mũi cuốc phá một tảng đất cứng.
Ta hỏi:
“Năm nào cha cũng đếm, có năm nào thiếu đâu.”
“Thiếu thì tốt.”
“Tại sao?”
“Bớt một cái miệng ăn.”
Ông đáp mà không ngẩng đầu.
Ta bật cười, cúi xuống nhổ tiếp cỏ.
Bạch hạc ở Đại Chu được xem là linh điểu. Trên những bức bình phong trong nhà người giàu, chúng thường đứng bên cây tùng, cổ cao, dáng thanh nhã, phía sau là mây lành và mặt trời đỏ. Nghe nói trong hoàng cung còn có người chuyên nuôi hạc, mỗi con được ăn gạo trắng, uống nước suối, khi trời lạnh có cả phòng kín để ngủ.
Bạch hạc ở Tây Lăng không được hưởng những thứ ấy, nhưng chúng cũng chẳng thiếu thốn. Mỗi độ hoa trong ruộng nhà ta bắt đầu nở, đàn hạc quen thuộc ấy lại từ mặt hồ phía bắc bay về, đáp xuống giữa những luống cây rồi nhẩn nha mổ vài cánh hoa. Năm nào cũng đúng từng ấy con, chẳng thừa chẳng thiếu, nên phụ thân đếm xong liền yên tâm cúi xuống làm việc.
Mỗi con chỉ nếm đôi ba bông rồi ngẩng đầu nhìn trời, thong thả bước giữa ruộng như những vị khách quen ghé qua thưởng thức hương vị đầu xuân. Số hoa mất đi chẳng đủ làm vơi một giỏ thu hoạch, cùng lắm chỉ khiến phụ thân xót vài bông đẹp. Thành thử năm nào cũng vậy, nhà ta trồng hoa, chúng ghé xuống ăn một ít, phụ thân cầm chổi khua lấy lệ vài cái; đàn hạc bay lên, đợi ông quay lưng lại thong thả đáp xuống.
Lâu dần, chuyện ấy trở thành một phần của mùa xuân Tây Lăng, giống như gió từ phương bắc, nước suối tan băng hay tiếng ếch bắt đầu vang lên trong những đêm ấm.
Người trong làng thấy hạc thì chắp tay bảo linh điểu đã về.
Phụ thân thấy hạc thì đi tìm chổi.
Vài ngày sau, những nụ hoa đầu tiên bắt đầu mở. Thoạt tiên chỉ là một vài cánh đỏ mỏng e dè tách ra giữa màu xanh; sang hôm sau, cả luống phía đông đã nở; đến ngày thứ ba, đứng từ sườn núi nhìn xuống, ruộng nhà ta giống như một tấm vải đỏ trải giữa thung lũng.
Gió thổi qua, hoa lay thành từng đợt. Hương hoa không ngọt như hoa mận, cũng không thơm nồng như quế, mà ngai ngái, hơi đắng, lẫn trong mùi đất ẩm và cỏ non. Người mới đến Tây Lăng thường thấy lạ, còn ta đã ngửi thứ hương ấy từ khi còn nằm trong nôi, lâu dần chẳng khác nào mùi khói bếp trong nhà.
Hoa năm ấy nở đặc biệt tốt.
Thân cây cao, cánh dày, màu đỏ sẫm hơn mọi năm. Phụ thân đi một vòng quanh ruộng, bàn tay chai sần chạm vào từng gốc cây, khóe miệng khẽ nhếch lên. Ông ít khi cười thành tiếng, nhưng mỗi lần vui, nếp nhăn nơi đuôi mắt sẽ dồn lại, giống mặt nước gặp một cơn gió nhỏ.
Ta nhìn thấy, trong lòng cũng vui theo.
“Nếu không gặp mưa đá, vụ này chắc bán được giá.”
Phụ thân lập tức liếc ta.
“Đừng nói gở.”
Ta cúi đầu nhổ mạnh một bụi cỏ, giả vờ như câu vừa rồi không phải do mình nói.
Từ khi hoa nở, đàn hạc bắt đầu ghé ruộng thường xuyên hơn.
Buổi sáng, khi hai cha con còn đang xách nước từ giếng ra, chúng đã đứng rải rác giữa những luống hoa. Con nào con nấy sạch sẽ, trắng trẻo, bước đi khoan thai, vừa cúi đầu mổ hoa vừa nghiêng đầu chọn lựa, cứ như khách quý tới dự tiệc còn chê món này non, món kia chưa đủ ngon.
Phụ thân đặt thùng nước xuống, nhìn chúng một lúc rồi nhặt chiếc chổi tre dựng bên bờ.
Ông chẳng chạy, chỉ đứng nguyên tại chỗ khua lấy lệ vài cái.
“Đi.”
Mấy con gần bờ giương cánh bay sang luống khác, những con còn lại ngẩng đầu nhìn ông, rồi thong thả lùi ra xa thêm vài bước.
Phụ thân khua thêm một cái nữa.
Đàn hạc lúc ấy mới chịu bay lên, lượn một vòng rất đẹp trên nền trời xanh rồi đáp xuống bờ sông.
Ông cắm chổi trở lại bên gốc liễu, cúi xuống xới đất.
Chưa đầy một chén trà, chúng lại bay về.
Phụ thân ngẩng đầu nhìn một lần, chẳng buồn đứng dậy nữa.
“Lũ cướp.”
Ta nghe thấy nhưng giả vờ không nghe, bởi nếu cười, ông sẽ sai ta cầm chổi.
Mười hai con hạc vẫn ăn rất chừng mực. Con mổ một bông, con hai bông, có con chỉ ngậm một cánh hoa rồi đứng bên rãnh nước rỉa lông. Phần hoa mất đi chẳng đáng bao nhiêu so với cả cánh đồng, nên phụ thân đuổi chúng phần nhiều chỉ vì thói quen, giống như người ta xua gà khỏi sân dù biết lát nữa chúng vẫn quay lại.
Ta thì không điềm nhiên được như ông.
Năm nay hoa tốt, ta đã âm thầm tính toán hết lượt này đến lượt khác. Nếu vụ mùa thuận lợi, sau khi trừ tiền giống, tiền thuế và những khoản cần thiết, có lẽ vẫn còn đủ bạc để sửa lại mái nhà trước mùa mưa, may cho phụ thân một chiếc áo bông mới, lại mua đôi giày mềm hơn để ông đỡ đau chân.
Bởi vậy, mỗi bông bị mổ mất, ta đều thấy tiếc.
Một buổi trưa, khi mặt trời vừa đứng qua đỉnh đầu, ta đang xới đất ở luống phía bắc thì trông thấy đàn hạc lại đáp xuống. Mười hai con vẫn tản ra như mọi khi, con đứng bên bờ, con thong thả bước giữa những luống hoa, chẳng có vẻ gì định gây chuyện.
Ta chống cuốc, nhìn chúng một lúc.
Phụ thân ngồi dưới bóng liễu uống nước, chỉ nói:
“Để chúng ăn rồi tự đi.”
Ta đành cúi xuống làm tiếp.
Nhưng chưa được bao lâu, từ phía ruộng nam bỗng vang lên một tiếng sột soạt rất lớn, sau đó là hàng loạt thân cây rung lên, như có thứ gì đang lăn qua giữa những luống hoa.
Ta ngẩng phắt đầu.
Một khoảng đỏ ở cuối ruộng đang lay động dữ dội.
Bỗng từ cuối ruộng dậy lên tiếng cánh chim. Đàn bạch hạc nối nhau cất cánh, những đôi cánh trắng chao qua biển hoa đỏ, chỉ một thoáng đã tan vào nền trời xanh biếc. Gió xuân lướt qua cánh đồng, làm những bông anh túc nghiêng mình như sóng nước. Chỉ có cuối ruộng vẫn còn một khoảng trắng lặng im giữa sắc hoa đỏ thắm. Ta dừng chân nhìn lại. Hình như... vẫn còn một con hạc ở đó.
Ta lập tức ném cuốc xuống, chộp lấy chiếc chổi tre rồi chạy về phía ruộng nam.
Phụ thân đang uống nước, thấy vậy chỉ quay đầu nhìn theo. Ông không gọi, cũng chẳng đứng dậy, chỉ khẽ lắc đầu.
“Đúng là còn nhiều sức…”
Ta không nghe rõ, mà dù nghe rõ cũng chẳng có tâm trí đáp lại.
Chỗ ruộng phía nam vốn là nơi cây mọc đẹp nhất. Phụ thân đã mất ba ngày sửa lại rãnh dẫn nước ở đó, ta cũng đã nhổ cỏ quanh từng gốc suốt cả buổi sáng hôm trước. Vậy mà lúc này, một khoảng hoa lớn đã đổ rạp, những cành cây nghiêng ngả, cánh đỏ rơi đầy trên mặt đất.
Giữa khoảng ấy có một vật trắng nằm im.
Ta khựng bước. Tim bỗng hụt mất một nhịp. Con hạc vẫn nằm đó, lặng im giữa đám hoa đỏ, đến cả ngọn gió xuân đi ngang qua cũng chẳng lay nổi một chiếc lông trắng trên cánh nó.
Hay lúc nãy... ta quơ chổi mạnh quá?
Ý nghĩ ấy vừa thoáng qua, đầu óc ta bỗng trống rỗng, đến cả chiếc chổi trong tay cũng quên cầm cho chắc, chỉ biết cuống quýt bước lại gần.
Chiếc cổ trắng dài xõng xoài trên những cánh anh túc đỏ. Hai mắt khép hờ, viền mắt ướt nhòe. Chiếc mỏ hé ra một kẽ nhỏ, nước dãi lặng lẽ rỉ xuống cánh hoa đỏ. Bộ lông trắng bết đất, vài cánh hoa dính lẫn trong đám lông trước ngực. Nó nằm bất động, hơi thở mỏng đến mức lồng ngực chỉ khẽ nhô lên sau một quãng rất lâu.
Ta hoảng hốt quỳ sụp xuống bên cạnh. Một cánh hoa đỏ vẫn còn dính nơi khóe mỏ nó.
Ta vội đưa tay gỡ xuống.
Đúng lúc đầu ngón tay vừa chạm vào cánh hoa, con hạc bỗng ngẩng phắt đầu lên.
Chiếc chiếc mỏ đen nhánh lập tức nhai ngấu nghiến.
Chỉ trong chớp mắt, nửa bông anh túc còn lại đã bị nó nuốt chửng.
Nuốt xong, nó nhắm mắt, khẽ chép miệng, ngoẹo cổ sang một bên rồi lại nằm lịm xuống giữa ruộng hoa, hơi thở đều đều, như thể từ đầu đến cuối chưa từng có chuyện gì xảy ra.
Ta sững sờ, lửa giận bùng lên.
"Đồ khốn!"
Ta nghiến răng, nhào tới túm phắt lấy chiếc cổ trắng dài của nó.
Ngay khoảnh khắc những ngón tay vừa siết lại
Bên tai ta bỗng vang lên một giọng nam khàn khàn, còn ngái ngủ.
"Thả ta ra."