Chương 4 – Một nhà có thêm một miệng ăn

9,393 words · 47 min read

Ta không có thời gian đứng giữa sân suy nghĩ xem một con hạc không chịu đi là điềm lành hay điềm dữ, bởi người làm ruộng có thể sợ yêu quái, có thể tránh tà ma, nhưng tuyệt đối không thể để bụng đói mà ra đồng.

Hôm qua, nồi cháo đã bị một kẻ lai lịch bất minh ăn sạch đến mức đáy nồi sáng bóng, bánh ngô không còn lấy một mẩu, ngay cả đĩa củ muối mà phụ thân vẫn chê mặn cũng biến mất không dấu vết, cho nên sáng nay ta chỉ có thể vội vàng nhóm lại bếp, vo thêm một bát gạo, thái mấy củ khoai bỏ vào nồi, vừa quạt lửa vừa đau lòng tính toán xem số lương thực còn lại trong chum có thể chống đỡ được bao nhiêu ngày nếu nhà họ Tạ thật sự phải nuôi thêm một cái bụng như đêm qua.

Phụ thân ngồi ngoài hiên vá lại chiếc giỏ tre, thỉnh thoảng ngẩng đầu nhìn con hạc đang đứng giữa sân, ánh mắt vẫn đầy vẻ đề phòng.

“Con đuổi nó đi chưa?”

“Đuổi rồi.”

“Không đi?”

“Không đi.”

Phụ thân im lặng một lát, lại hỏi:

“Con ném đá chưa?”

Ta quay đầu nhìn ông.

“Cha muốn con ném trúng thật hay chỉ dọa nó?”

Phụ thân suy nghĩ rất nghiêm túc rồi đáp:

“Dọa trước, không đi thì ném trúng.”

Con hạc dường như nghe hiểu, lập tức quay đầu nhìn ông, đôi mắt đen sâu thẳm, cổ hơi vươn lên, bộ dạng thanh cao lạnh nhạt như thể đang nghe một lời xúc phạm khó có thể tha thứ.

Phụ thân nhìn nó một lúc, cuối cùng cúi xuống tiếp tục vá giỏ.

“Thôi.”

“Vì sao?”

“Nhìn nó giống như sẽ ghi thù.”

Ta cũng cảm thấy như vậy.

Nồi cháo khoai vừa sôi, con hạc vốn còn đứng giữa sân lập tức quay đầu nhìn về phía bếp, động tác nhanh đến mức vẻ thanh cao ban nãy chưa kịp tan hết trên mặt, khiến dáng vẻ của nó trở nên vô cùng kỳ quái.

Ta cầm muôi khuấy nồi cháo, cố ý quay lưng lại, nhưng khóe mắt vẫn âm thầm quan sát bóng trắng ngoài cửa.

Nó không bước vào.

Chỉ đứng đó.

Cái cổ dài hơi nghiêng về phía trước, đôi mắt không rời khỏi nồi cháo, nhưng hai chân vẫn đứng ngay ngắn giữa sân, giống như cho dù chết đói cũng nhất quyết không chịu hạ mình bước qua ngưỡng cửa nhà người khác.

Ta múc cháo ra hai bát, đặt lên bàn, sau đó lấy thêm một chiếc đĩa sứt miệng, bỏ vào đó nửa chiếc bánh ngô còn sót lại dưới đáy chum rồi đặt bên cạnh cửa bếp.

Con hạc không động đậy.

Ta cùng phụ thân ngồi xuống ăn.

Nó vẫn không động đậy.

Ta ăn hết nửa bát cháo, thấy nó vẫn giữ nguyên tư thế, trong lòng không khỏi hơi dao động, nghĩ rằng có lẽ mình đã trách nhầm nó; dù sao hạc vốn ăn cá, ăn cỏ, ăn hạt, chưa chắc đã thích bánh ngô nguội lạnh của con người.

Ý nghĩ ấy còn chưa kịp trôi qua, phụ thân vừa quay lưng lấy thêm củ muối, con hạc đã lao đến nhanh như một mũi tên trắng, ngậm lấy nửa chiếc bánh rồi lùi ra ngoài sân, cả quá trình không phát ra lấy một tiếng động.

Khi phụ thân quay lại, nó đã đứng dưới gốc lê, thong thả ngẩng đầu nhìn trời, chỉ có mẩu bánh ngô còn mắc nơi khóe mỏ.

Ta cúi đầu uống cháo, cố nhịn cười.

Phụ thân nhìn chiếc đĩa trống, rồi nhìn con hạc.

“Nó vừa ăn phải không?”

“Con không thấy.”

“Miệng nó còn dính bánh.”

“Có lẽ gió thổi vào.”

Phụ thân nhìn ta hồi lâu, không nói thêm gì nữa.

Sau bữa sáng, hai cha con ta mang cuốc ra ruộng, phía sau con hạc thứ mười ba lẽo đẽo đi theo. Mười hai con hạc trắng quen thuộc cũng đã đáp xuống từ lúc nào, rải rác đứng ven những luống hoa, con cúi xuống nhón một cánh, con thong thả mổ lấy một hai bông rồi thôi, ăn uống có chừng mực như thể đã biết rõ quy củ nhà họ Tạ suốt bao mùa xuân.

Phụ thân thấy vậy cũng chẳng buồn đuổi, bởi mười hai tên cướp ấy năm nào cũng đến, mỗi con lấy đi một chút, gom lại nhiều lắm chỉ mất vài nắm hoa, coi như tiền thuê chúng đứng giữa ruộng làm cảnh; nhưng con thứ mười ba thì hoàn toàn khác, hôm qua chỉ trong lúc ta sơ ý, nó đã cúi đầu ăn sạch cả một khoảnh, nếu hôm nay còn để mặc thêm nửa canh giờ, e rằng sang năm đừng nói đến bánh ngô, ngay cả cháo loãng nhà họ Tạ cũng chẳng còn mà ăn.

Ta vừa bước xuống bờ ruộng vừa quay đầu nhìn nó, còn nó vẫn ung dung theo sau, cổ vươn cao, đôi cánh khép sát bên mình, dáng vẻ thanh cao đến mức dường như kẻ hôm qua ăn trụi một khoảng hoa không phải nó, mà là mười hai con hạc vô tội đang đứng ven bờ kia.

Nhà họ Tạ không có nhiều đất, nhưng mảnh ruộng thuốc phía sau núi lại là thứ phụ thân chăm sóc hơn cả tính mạng, bởi những cây anh túc nhà ta trồng không phải loại người ta lén gieo trong rừng sâu để làm việc xấu, mà là giống dược liệu được quan phủ cho phép, nhựa có thể chế thuốc giảm đau, hạt có thể nhập dược, mỗi vụ thu hoạch đều có người trong thành đến kiểm tra và ghi sổ.

Phụ thân thường nói, hoa đẹp chưa chắc đã là thứ tốt, nhưng thứ khiến người ta sợ hãi cũng chưa chắc chỉ dùng để hại người; trên đời này, tốt hay xấu nhiều khi không nằm ở bản thân nó, mà nằm trong tay kẻ cầm lấy nó.

Khi ấy ta chưa hiểu hết câu ấy. Ta chỉ biết nếu ruộng thuốc chết mất một nửa, phụ thân sẽ lại ngồi bên chum gạo thở dài suốt cả mùa đông.

Con hạc đi theo chúng ta.

Ban đầu nó còn giữ khoảng cách chừng mười bước, thong thả bước qua lối nhỏ, cái cổ vươn cao, đôi cánh khép sát hai bên, dáng vẻ không giống một con vật bị đuổi khỏi sân mà giống vị quan lớn đang xuống ruộng xem xét dân tình.

Ta vừa quay đầu, nó lập tức đứng im, còn nghiêng cổ mổ lấy một hòn sỏi bên đường, dáng vẻ thản nhiên đến mức như thể việc ta xuất hiện hoàn toàn không đáng để nó bận tâm, nhưng chỉ cần ta quay lưng bước tiếp, phía sau rất nhanh lại vang lên tiếng chân nhè nhẹ; ta cố ý rẽ sang lối khác, nó cũng lững thững đổi hướng theo, ta bước nhanh hơn, nó cũng bước nhanh hơn, vẫn giữ đúng khoảng cách ấy, khiến ta càng nhìn càng có cảm giác không phải nó đang theo ta, mà chính ta mới là người vô duyên vô cớ cứ chạy loanh quanh trước mặt nó. Cuối cùng, ta chống cuốc đứng giữa đường, quay lại hỏi:

“Ngươi theo ta làm gì?”

Con hạc nghiêng đầu.

“Trong ruộng không có bánh ngô.”

Nó chớp mắt.

“Cũng không có cháo.”

Nó quay mặt đi, ánh mắt nhìn về phía xa xăm, vẻ khinh thường hiện rõ đến mức ta gần như có thể nghe thấy nó đang nói mình không phải loại hạc bị chút thức ăn tầm thường mua chuộc.

Ta mặc kệ nó, tiếp tục đi.

Chưa đến nửa khắc sau, vừa bước tới bờ ruộng, ta đã thấy con hạc biến mất.

Trong lòng ta lập tức dâng lên dự cảm chẳng lành.

Mười hai con hạc cũ vẫn đứng rải rác ven ruộng, con này nhón một bông, con kia mổ hai cánh rồi ngẩng đầu chải lông, ăn xong liền thong thả tránh sang một bên, chỉ riêng con thứ mười ba chẳng biết từ lúc nào đã lẩn vào giữa luống hoa phía đông, cái đầu trắng liên tục nhấp nhô giữa những bông đỏ, chiếc mỏ đen vừa nuốt xong bông này đã lập tức nhắm sang bông khác, nơi nó đi qua để lại một khoảng trống rõ ràng đến mức tim ta cũng trống theo.

“Dừng lại!”

Mười hai con ven ruộng đồng loạt ngẩng đầu.

Chỉ có tên đang ăn vụng khựng lại, trên mỏ còn mắc một cánh hoa đỏ, sau đó chậm rãi quay sang nhìn ta bằng vẻ mặt vô tội, như thể cả khoảng hoa biến mất kia đã tự mọc chân bỏ đi chứ tuyệt đối không liên quan đến nó.

Ta buông cuốc, lao tới.

Nó xoay người bỏ chạy.

Ruộng thuốc nhà ta được chia thành từng luống hẹp, người đi qua còn phải cẩn thận tránh giẫm vào cây non, nhưng con hạc kia hai chân dài, chỉ vài bước đã lướt qua ba luống, cánh hơi xòe ra, bộ lông trắng nổi bật giữa biển hoa đỏ, nhìn từ xa quả thật đẹp như cảnh trong tranh.

Nếu số hoa ấy không phải tiền mua gạo của nhà ta, có lẽ ta đã đứng lại ngắm lâu hơn một chút.

“Đứng lại!”

Nó không đứng.

Ta đuổi theo từ đầu ruộng sang cuối ruộng, cuối cùng nhân lúc nó cúi xuống định ngoạm thêm một bông, ta nhào tới ôm lấy cái cổ dài, kéo cả người lẫn hạc ngã xuống bãi cỏ bên bờ.

Con hạc lập tức nằm im.

Ta chống tay ngồi dậy, thở hồng hộc, còn nó thì nghiêng cổ sang một bên, hai mắt nhắm nghiền, hai chân duỗi thẳng, toàn thân mềm nhũn như đã chết từ lâu.

Ta ngồi xổm trước mặt nó quan sát thật lâu, thấy từ đầu đến cuối con hạc vẫn nằm im không nhúc nhích, bèn thử đưa tay lay nhẹ một bên cánh, rồi cúi xuống áp tai vào ngực nghe ngóng; nhịp tim bên trong vẫn đập khỏe đến mức chẳng khác nào đang cố tình chế giễu sự nghi ngờ của ta, vậy mà khi ta nắm lấy cái đầu trắng nhấc lên xem thử, chiếc cổ dài lập tức mềm oặt rũ xuống như thể chỉ cần ta buông tay, nó sẽ chết thêm một lần nữa.

“Giả chết?”

Không phản ứng.

“Ngươi vừa ăn vụng hoa nhà ta.”

Không phản ứng.

“Ta sẽ nhổ lông đem bán.”

Một bên cánh khẽ co lại.

Ta lạnh lùng nói:

“Ta nhìn thấy rồi.”

Con hạc tiếp tục nằm im, nhưng móng chân đã lặng lẽ bấu xuống đất.

Ta ngồi xổm bên cạnh nó, nghĩ một lát rồi nói:

“Thôi được, ngươi đã chết thì tối nay không cần ăn.”

Hai mắt nó lập tức mở ra.

Ta bật cười thành tiếng.

Con hạc nhận ra mình mắc lừa, bỗng ngẩng đầu mổ về phía tay ta, nhưng động tác không mạnh, chỉ đủ khiến ta giật mình rụt tay lại, sau đó nó đứng lên, giũ bộ lông dính cỏ, quay lưng về phía ta, dáng vẻ vô cùng phẫn nộ.

“Ngươi còn biết xấu hổ sao?”

Nó bước đi.

“Ăn vụng hoa mà còn giả chết, ngươi có lý lắm à?”

Nó đi nhanh hơn.

“Đứng lại, trên mỏ còn dính cánh hoa kìa.”

Con hạc cúi đầu cọ mỏ vào bãi cỏ, thong thả lau sạch cánh hoa còn mắc nơi khóe mỏ rồi mới tiếp tục bước đi, bộ dạng ung dung như thể kẻ vừa ăn hoa hoàn toàn không phải mình;

Ta nhìn theo bóng lưng con hạc, trong lòng bỗng dâng lên một cảm giác kỳ lạ đến mức chính ta cũng thấy buồn cười. Không lẽ ta thật sự loạn thần rồi? Chỉ vì một sợi dây gai giống nhau, chỉ vì vài ánh mắt na ná mà lại dám nghĩ một con hạc ban ngày có thể hóa thành người vào ban đêm. Tây Lăng quả thực có không ít chuyện kỳ lạ, từ những truyền thuyết cũ kỹ cho đến mười hai con hạc trắng năm nào cũng tìm về đúng mùa hoa nở, nhưng kỳ lạ đến đâu cũng phải có chừng mực, làm gì có chuyện người với hạc muốn biến là biến được. Nghĩ đến đó, ta khẽ lắc đầu, tự ép mình nuốt ngược ý nghĩ hoang đường vừa mới ngoi lên xuống tận đáy lòng.

Đến giữa trưa, con hạc lại lén mổ thêm ba bông hoa, nhưng lần này không còn nằm lăn ra giả chết như buổi sáng nữa mà vừa thấy ta xách cuốc đi tới đã lập tức vỗ cánh chạy một mạch đến sau lưng phụ thân, ngoan ngoãn đứng sát bên chân ông rồi ngẩng chiếc đầu trắng nhìn ta, bộ dạng chẳng khác nào một đứa trẻ vừa gây họa xong liền chạy đi tìm người lớn chống lưng, khiến phụ thân đang ngồi lom khom nhổ cỏ cũng phải ngẩng đầu lên, thấy ta hùng hổ bước tới thì khẽ nhíu mày.

“Con làm gì?”

“Nó ăn hoa.”

Phụ thân cúi xuống nhìn con hạc.

Con hạc ngoan ngoãn đứng im, đôi mắt trong veo, thần thái vô tội, ngay cả chiếc mỏ cũng sạch sẽ không dính lấy một cánh hoa.

“Nó ăn thật?”

“Con tận mắt nhìn thấy.”

Phụ thân nhìn ta, rồi lại nhìn nó.

“Bắt được tại trận không?”

“Không.”

“Có tang chứng không?”

“Không.”

Phụ thân trầm ngâm một lát.

“Vậy không thể kết tội.”

Ta không thể tin nổi.

“Cha đang xử án cho một con hạc đấy à?”

“Không có chứng cứ thì không được đánh oan.”

Con hạc đứng phía sau chân ông, khẽ khàng chải lông cánh, dáng vẻ thanh thản như đã thắng một trận lớn.

Ta nghiến răng.

Phụ thân nhìn về phía mười hai con hạc đang thong thả đứng ven bờ, rồi lại cúi xuống nhìn con thứ mười ba đang nấp sau chân mình.

“Hạc nào chẳng ăn hoa?”

“Mười hai con kia mỗi con chỉ ăn một hai bông.”

Ta chỉ tay vào khoảng đất vừa bị vét trống, đau lòng đến mức giọng cũng cao lên.

“Còn nó mà ăn thêm vài bữa nữa, sang năm cha con ta chỉ còn nước ngồi nhìn chum gạo trống.”

Con hạc lập tức rúc đầu vào sau cánh, giả vờ chải lông.

Phụ thân nhìn khoảng hoa bị mất, lần này không thể nói không có tang chứng nữa, bèn dùng cán cuốc gõ nhẹ xuống đất trước mặt nó.

“Ăn thì ăn ven ven thôi.”

Ta quay phắt sang nhìn ông.

“Cha còn dạy nó cách ăn vụng à?”

Phụ thân bình thản đáp:

“Không dạy thì nó lại ăn mất cả khoảnh.”

Đến giờ nghỉ trưa, ta lấy từ trong giỏ ra hai chiếc bánh ngô, đưa cho phụ thân một chiếc, còn mình cầm chiếc còn lại ngồi dưới bóng cây.

Con hạc đứng cách chúng ta không xa, quay lưng về phía này như thể hoàn toàn chẳng hề quan tâm đến chiếc bánh ngô trong tay ta, nhưng ngay khi ta bẻ một miếng nhỏ, khóe mắt nó đã lặng lẽ liếc sang, còn lúc ta cố ý đưa bánh lên miệng nhai thật chậm, chiếc cổ dài cũng chầm chậm xoay lại theo từng động tác của ta; từ đầu đến cuối nó vẫn cố giữ bộ dạng lạnh nhạt, kiêu ngạo của một con hạc cao quý, chỉ tiếc rằng hai chân đã phản chủ từ lúc nào, cứ từng chút từng chút một tiến lại gần, đến khi ta bẻ thêm một miếng bánh đặt lên lòng bàn tay thì khoảng cách giữa ta và nó cũng chẳng còn bao xa nữa.

“Không ăn thì thôi.”

Con hạc từ đầu đến cuối vẫn không thèm quay đầu nhìn ta lấy một lần, dường như quyết tâm giữ vững cái vẻ thanh cao ấy đến cùng, nhưng vừa thấy ta giả vờ đưa miếng bánh lên miệng, bóng trắng trước mặt đã loáng một cái, chiếc bánh trong tay ta chẳng biết từ lúc nào đã nằm gọn trong mỏ nó; nó lập tức lùi ra xa ba bước như sợ ta đổi ý đòi lại, thong thả nuốt hết rồi mới ngẩng cao đầu, ánh mắt bình thản đến mức khiến người không biết chuyện nhìn vào chỉ e sẽ tưởng chính ta đang khẩn khoản dâng bánh, còn nó vì nể tình nên mới miễn cưỡng nhận lấy.

Phụ thân nhìn thấy, khẽ hừ một tiếng.

“Cũng biết làm bộ.”

Ta quay sang.

“Cha cũng thấy phải không?”

“Thấy gì?”

“Nó giống người.”

Phụ thân nhìn con hạc hồi lâu, rồi lắc đầu.

“Người còn biết trả tiền.”

Ta càng nghĩ càng thấy lời phụ thân nói rất có lý. Suốt cả buổi chiều, con hạc vẫn lẽo đẽo theo ta khắp nơi; ta mang dược liệu ra bờ suối rửa, nó liền đứng trên một tảng đá gần đó lặng lẽ nhìn xuống, ta vào rừng hái lá thuốc, nó lại chậm rãi bước sau lưng, đến lúc ta ngồi nghỉ dưới gốc cây, nó cũng co một chân đứng ngay bên cạnh như thể từ trước đến nay vốn vẫn luôn ở đó. Có lúc ta nổi tính hiếu kỳ, cố ý lẩn sau một bụi rậm định xem nếu mất dấu ta nó có chịu đi tìm hay không, nào ngờ mới vừa cúi người nín thở được một lát, trên đỉnh đầu đã bất ngờ thò xuống một cái đầu trắng muốt, chiếc mỏ đen chỉ còn cách trán ta chưa đầy một gang tay, dọa ta giật bắn người ngã phịch xuống đất, còn thủ phạm thì chỉ nghiêng đầu chớp chớp mắt nhìn ta đầy khó hiểu, giống như không hiểu vì sao ta lại phản ứng lớn đến vậy.

“Ngươi không thể kêu một tiếng trước sao?”

Nó im lặng.

“Suốt ngày đi theo ta làm gì?”

Nó vẫn im lặng.

Ta phủi đất trên váy rồi chậm rãi đứng dậy, vừa đi vừa tự cười mình vô cớ; con hạc ấy rõ ràng phiền đến mức chỉ muốn lấy chổi đuổi đi thật xa, thế nhưng giữa núi rừng mênh mông, nơi ngoài tiếng suối và tiếng lá rơi chẳng còn mấy âm thanh khác, phía sau lúc nào cũng có một bóng trắng lặng lẽ theo cùng, để mỗi lần ngoái đầu lại đều thấy nó vẫn đứng nguyên ở đó, bình yên đến mức ngay cả ta cũng không nhận ra từ bao giờ mình đã quen với sự hiện diện ấy.

Buổi tối trở về, ta cố ý nấu nhiều hơn thường lệ.

Phụ thân nhìn nồi cơm đầy, lập tức hỏi:

“Nhà có khách?”

“Không.”

“Vậy sao nấu nhiều thế?”

“Con đói.”

Phụ thân đưa mắt nhìn ta từ đầu đến chân, hiển nhiên không tin một người ăn uống bình thường như ta lại đột nhiên đói đến mức phải xin thêm ba chiếc bánh ngô, nhưng ông cũng không hỏi lấy một câu, chỉ lặng lẽ mở nắp chum gạo, xúc bớt một nắm nhỏ cất sang chiếc túi vải đặt cạnh vách như một thói quen dành dụm đã theo ông suốt bao năm, còn ta cũng giả vờ như chẳng nhìn thấy động tác ấy, chỉ cúi đầu ăn hết bữa cơm.

Đến tối, sau khi dọn dẹp xong xuôi, ta lặng lẽ đặt lên chiếc bàn nhỏ trong bếp một bát cơm, một đĩa rau xào cùng hai chiếc bánh ngô còn nóng, rồi khép cửa trở về phòng, thổi tắt ngọn đèn dầu nhưng không hề lên giường ngủ, chỉ lặng lẽ ngồi bên khung cửa sổ hé mở, bởi ngoài sân, dưới gốc táo già, con hạc trắng vẫn đứng yên bất động như từ trước đến nay chưa từng rời khỏi nơi ấy. Ánh trăng đầu tháng mỏng như một lớp sương bạc, phủ lên bộ lông trắng của nó, khiến thân hình ấy dường như nhòa dần vào bóng đêm.

Ta nằm yên trong chăn, nín thở lắng nghe từng âm thanh rất nhỏ ngoài sân; lúc đầu chỉ có tiếng côn trùng rả rích giữa đồng thuốc và từng cơn gió đêm lùa qua mái hiên, thỉnh thoảng khẽ lay những cành táo phát ra tiếng xào xạc rất nhẹ, nhưng chẳng bao lâu sau, giữa màn tĩnh lặng ấy bỗng vang lên một tiếng cành cây rung khẽ, khiến ta lập tức hé mắt nhìn qua khe cửa sổ. Dưới gốc táo đã không còn bóng dáng con hạc trắng nữa, thay vào đó là một bóng người cao gầy đang lặng lẽ đứng giữa sân, ánh trăng nhàn nhạt phủ lên vạt áo trắng khiến cả người hắn như được phủ thêm một tầng sương mỏng, còn tim ta thì đập dồn dập đến mức tưởng như chỉ cần thêm một nhịp nữa thôi, cả căn phòng nhỏ cũng sẽ nghe thấy.

Dưới ánh trăng, người ấy vẫn là bộ y phục rách bẩn ta đã nhìn thấy đêm qua, mái tóc dài buông xuống bờ vai, trên hai cánh tay còn in những vết hằn đỏ của dây gai, chỉ có sợi dây đã lặng lẽ rơi xuống đám cỏ dưới chân như hoàn thành sứ mệnh của mình. Hắn đứng lặng rất lâu, chậm rãi nhìn đôi bàn tay rồi lại ngẩng đầu nhìn bầu trời đêm, ánh mắt trống rỗng đến mức ngay cả ta núp trong phòng cũng có thể cảm nhận được sự mờ mịt, như thể người vừa tỉnh dậy sau một giấc mộng dài mà hoàn toàn không biết mình là ai, cũng không biết vì sao lại có mặt ở sân nhà họ Tạ.

Nhưng ngay khi mùi cơm nóng cùng hương bánh ngô từ gian bếp lặng lẽ lan ra theo gió đêm, hắn bỗng quay đầu, mọi vẻ mờ mịt trong đôi mắt phút chốc tan biến sạch sẽ, nhanh đến mức ta suýt bật cười, bởi hóa ra thứ có thể kéo hắn trở về với thực tại không phải ký ức mà lại là thức ăn. Hắn chậm rãi bước vào bếp, song không vội động đũa, chỉ đứng lặng trước chiếc bàn gỗ nhìn bát cơm cùng hai chiếc bánh ngô hồi lâu, rồi còn cẩn thận quay đầu nhìn khắp bốn phía như muốn xác nhận trong nhà quả thật không có ai. Ta nấp sau cánh cửa, nín thở đến mức lồng ngực cũng hơi nhói, nhìn hắn cuối cùng mới yên tâm ngồi xuống, cầm bát cơm ăn từng miếng chậm rãi hơn hẳn đêm qua, nhưng tốc độ dọn sạch thức ăn thì vẫn chẳng hề thay đổi, đến khi trong bát không còn sót lại nổi một hạt cơm, hắn đưa tay cầm lấy chiếc bánh ngô thứ hai. Cũng đúng lúc ấy, ta không chờ thêm nữa mà đưa tay đẩy cửa bước ra, tiếng bản lề khẽ vang lên trong gian bếp yên tĩnh khiến động tác của hắn lập tức khựng lại giữa không trung; dưới ánh đèn dầu leo lét, bốn mắt lặng lẽ nhìn nhau, còn ta thì khoanh tay trước ngực, chậm rãi tựa người vào khung cửa.

“Quả nhiên là ngươi.”

Hắn không đáp.

“Ban ngày làm hạc, ban đêm làm người?”

Ánh mắt hắn hơi dao động, như thể chính câu hỏi ấy cũng khiến hắn bối rối.

Ta bước vào bếp, kéo ghế ngồi đối diện.

“Ngươi tên gì?”

Hắn im lặng rất lâu.

“Không nhớ.”

“Nhà ở đâu?”

“Không nhớ.”

“Cha mẹ là ai?”

Hắn nhíu mày, bàn tay đang cầm bánh ngô chậm rãi siết lại.

“Không nhớ.”

Ta nhìn hắn, bỗng thấy sống mũi hơi cay. Đến tận lúc ấy ta mới hiểu, vì sao đêm qua mình lại đủ can đảm dẫn một con ma đói vào bếp nhà họ Tạ. Người trước mặt rõ ràng khỏe mạnh, vậy mà ánh mắt lại lạc lõng như một đứa trẻ bị bỏ quên giữa núi rừng, khiến ta dù có muốn giận cũng chẳng giận nổi.

“Vậy ngươi nhớ được gì?”

Hắn cúi mắt, dường như đang cố lục tìm trong một nơi tối tăm sâu thẳm nào đó.

Một lúc lâu sau, hắn mới nói:

“Ngựa.”

“Ngựa?”

“Ta từng cưỡi ngựa.”

“Ở đâu?”

“Trong núi.”

Giọng hắn rất thấp, từng chữ đều chậm chạp như được kéo ra khỏi màn sương.

“Có người đuổi theo.”

“Là ai?”

Hắn lắc đầu.

“Sau đó?”

Hắn nhắm mắt, sắc mặt bỗng tái đi.

“Mũi tên.”

Ta vô thức ngồi thẳng người.

“Ngươi bị bắn?”

Hắn đưa tay chạm vào vai trái.

Nơi đó quả nhiên có một vết thương đã khép miệng, nhưng vùng da xung quanh vẫn còn xanh tím, nhìn qua có thể đoán được từng bị vật sắc xuyên qua.

“Ta ngã xuống.”

“Rồi sao nữa?”

“Không nhớ.”

Ngoài cửa, gió đêm khẽ lướt qua cây táo, lá cọ vào nhau tạo thành những tiếng thì thầm mơ hồ như vọng lại từ một giấc mộng rất cũ. Ta nhìn người trước mặt thật lâu, lần đầu tiên hiểu rằng vẻ lạnh nhạt trên gương mặt hắn chưa bao giờ là sự kiêu ngạo, mà chỉ là chiếc vỏ bọc của một kẻ đã đánh mất tất cả; đánh mất tên họ, đánh mất nơi để trở về, đánh mất cả lời giải cho việc vì sao mỗi khi mặt trời lặn lại trở thành con người, còn khi bình minh lên chỉ có thể mang hình dáng một con hạc trắng. Điều duy nhất còn sót lại trong ký ức mờ nhạt ấy chỉ là bóng một con ngựa đang lao đi giữa rừng sâu cùng mũi tên bất ngờ xé gió bay tới, rồi sau đó... tất cả đều chìm vào khoảng trống.

Ta khẽ thở dài, lặng lẽ đẩy chiếc đĩa bánh về phía hắn thêm một chút.

"Ăn tiếp đi."

Hắn ngước mắt nhìn ta, trong ánh mắt vẫn còn vài phần đề phòng như thể chỉ cần ta tiến thêm nửa bước, hắn sẽ lập tức buông chiếc bánh xuống. Thấy vậy, ta bất đắc dĩ bật cười.

"Ta không bỏ độc."

Hắn vẫn nhìn ta không chớp mắt.

"Nhà ta cũng không có tiền để mua độc."

Đến lúc ấy, hàng mày đang khẽ nhíu của hắn mới chậm rãi giãn ra, người cũng lặng lẽ cúi xuống cầm lấy chiếc bánh ngô còn lại, ăn từng miếng rất chậm nhưng sạch sẽ đến mức chẳng để sót lại lấy một vụn nhỏ. Ăn xong, hắn đặt chiếc đĩa xuống, chậm rãi đứng dậy như thể định rời khỏi nơi này, khiến ta gần như theo bản năng lên tiếng gọi lại.

"Ngươi đi đâu?"

Hắn quay đầu nhìn màn đêm mịt mùng ngoài sân, im lặng rất lâu mới khẽ đáp.

"Không biết."

Ta nghe vậy thì nhíu mày.

"Không biết mà vẫn đi?"

Hắn không trả lời, chỉ đứng lặng trước cửa, bóng lưng dưới ánh đèn dầu bỗng có chút cô độc, như thể ngay cả chính hắn cũng không biết ngoài khoảng sân tối om kia còn nơi nào có thể đặt chân. Ta nhìn theo ánh mắt ấy, rồi lại nhìn bộ y phục mỏng manh đã sờn rách trên người hắn, cuối cùng vẫn không đành lòng, khẽ đưa tay chỉ về gian kho nhỏ cạnh bếp.

"Đêm nay ngủ ở đó đi, nhưng sáng mai phải rời khỏi trước khi phụ thân ta thức dậy."

Hắn vẫn đứng nguyên tại chỗ, không gật đầu cũng chẳng lắc đầu. Ta đợi một lúc, rốt cuộc vẫn phải bất lực hỏi thêm.

"Ngươi còn muốn gì nữa?"

Hắn im lặng một thoáng, nghiêm túc ngước mắt nhìn ta rồi rất thành thật hỏi:

"Còn thức ăn không?"

Ta khẽ nhắm mắt, trong lòng vừa mới mềm đi một chút đã lại bất lực đến muốn bật cười. Xem ra thứ duy nhất khiến hắn bận tâm trên đời này vẫn chỉ có cơm và bánh ngô. Thế nhưng đêm ấy, hắn lại không hề bước vào gian kho nhỏ như lời ta dặn, mà sau khi thấy ta trở về phòng liền lặng lẽ xách hai chiếc thùng gỗ đi ra giếng, từng gánh từng gánh nước đầy mang về đặt ngay ngắn dưới mái hiên, từ đầu đến cuối không phát ra lấy một tiếng động thừa.

Sáng hôm sau, phụ thân đứng lặng rất lâu trước chiếc chum nước đầy đến tận miệng, ánh mắt chậm rãi chuyển từ mặt nước phẳng lặng sang đôi thùng gỗ đặt ngay ngắn bên cạnh, hồi lâu mới quay sang nhìn ta đang cúi đầu thái rau ngoài hiên.

"Con gánh à?"

Ta vẫn chăm chú đưa dao xuống thớt, đầu cũng chẳng buồn ngẩng lên.

"Không."

Phụ thân im lặng thêm một lát rồi chậm rãi lắc đầu.

"Ta cũng không."

Ta nghĩ ngợi một chút rồi bình thản đáp:

"Có lẽ... đêm qua trời mưa."

Phụ thân chẳng nói gì, chỉ chắp tay sau lưng bước ra giữa sân, ngẩng đầu nhìn bầu trời xanh trong vắt không một gợn mây, khóe mắt khẽ giật giật.

"Mưa biết múc nước đổ vào chum nữa sao?"

Ta tiếp tục thái rau như không có chuyện gì xảy ra, chỉ thuận miệng đáp:

"Chuyện ở Tây Lăng vốn nhiều điều kỳ lạ mà."

Phụ thân liếc ta một cái, dường như muốn nói gì đó rồi lại thôi, cuối cùng chậm rãi quay đầu nhìn về phía gốc táo già, nơi con hạc trắng vẫn co một chân đứng dưới bóng cây, hai mắt khép hờ, dáng vẻ thanh thản như thể từ đầu đến cuối chưa từng biết đến hai thùng nước kia, càng không hề liên quan đến câu chuyện đang diễn ra trước mặt.

Đêm tiếp theo, ta múc cơm nhiều hơn hôm trước một chút, lại tiện tay lấy thêm một chiếc bánh ngô đặt lên đĩa. Đến lúc bưng vào bếp, ta mới khựng lại một thoáng, trong lòng thầm mắng mình đúng là hồ đồ, nhà họ Tạ cũng đâu dư dả gì để nuôi thêm một cái bụng không đáy. Thế nhưng nghĩ thì nghĩ vậy, cuối cùng ta vẫn không mang chiếc bánh ấy cất đi. Hắn quả nhiên lại xuất hiện đúng như mọi khi, ăn hết sạch bữa cơm ta để lại, rồi không nói một lời, lặng lẽ cầm chiếc búa dưới mái hiên đi sửa đoạn hàng rào phía tây đã nghiêng từ mùa mưa năm trước.

Sáng hôm sau, phụ thân vừa bước ra sân đã dừng chân trước đoạn hàng rào phía tây, nơi hôm qua còn xiêu vẹo vì trận mưa năm trước, vậy mà chỉ sau một đêm đã được dựng lại ngay ngắn. Ông đưa tay lay thử từng cọc gỗ, thấy chúng cắm chắc xuống đất thì khẽ gật gù, khóe miệng vô thức nhếch lên một chút, nhưng rất nhanh lại cố nén xuống, chậm rãi quay đầu nhìn ta đang ngồi lựa dược liệu dưới mái hiên.

"Con sửa à?"

Ta lắc đầu.

"Không."

Ông lại chỉ vào mình, rất tự nhiên nói:

"Ta cũng không."

Nói xong, ông chắp tay sau lưng đi một vòng quanh sân, ánh mắt lặng lẽ lướt qua chum nước luôn đầy ắp, đống củi đã được bổ gọn gàng, rồi lại dừng trên đoạn hàng rào vừa sửa xong. Hàng mày ông khẽ nhướng lên, trong mắt thoáng hiện vẻ suy nghĩ, nhưng cuối cùng chỉ vuốt chòm râu dưới cằm, như có như không lẩm bẩm:

"Xem ra... nhà mình có yêu quái."

Ta cúi đầu, đầu ngón tay khẽ siết bó dược liệu, cố nhịn cười.

"Yêu quái nào lại đi gánh nước, chẻ củi rồi sửa hàng rào?"

Phụ thân im lặng một lát, bỗng "ừm" một tiếng rất khẽ, sau đó chẳng hỏi thêm gì nữa mà chỉ thong thả quay người đi vào nhà, vừa đi vừa thuận tay vuốt lại tà áo, khóe miệng dường như cong lên hơn lúc nãy.

"Yêu quái... siêng năng cũng tốt."

Đêm thứ ba, mấy nia dược liệu đã phơi đủ nắng vẫn còn đặt dưới mái hiên, vốn định sáng hôm sau ta mới phân loại rồi cất vào kho, nào ngờ đến khi màn đêm buông xuống, hắn đã lặng lẽ ngồi giữa khoảng sân yên tĩnh, cẩn thận nhặt từng bó lá thuốc, phân riêng từng loại, buộc lại gọn gàng rồi lần lượt ôm vào kho trước khi hơi sương kịp len vào dưới mái hiên. Từ đầu đến cuối, hắn vẫn không nói một lời, chỉ lặng lẽ làm việc dưới ánh trăng như thể đôi tay ấy đã quen với những việc tỉ mỉ từ rất lâu.

Sáng hôm sau, phụ thân vừa mở cửa kho đã đứng khựng lại. Những bó dược liệu vốn chiều qua còn phơi lẫn lộn trên sạp tre giờ đã được xếp ngay ngắn theo từng loại, hàng nào ra hàng nấy, thậm chí ngay cả hướng buộc dây mây cũng giống hệt thói quen của ông. Phụ thân đưa tay cầm lên một bó, lại đặt xuống, ánh mắt chậm rãi đảo khắp gian kho, vẻ mặt ngày càng trở nên kỳ lạ; hồi lâu sau, ông mới khẽ khép cửa lại rồi quay sang gọi ta.

"Thanh Ninh."

Ta đang bưng bát cháo bước ra khỏi bếp, nghe tiếng gọi liền ngẩng đầu.

"Dạ?"

Phụ thân nhìn ta rất lâu, dường như muốn nhìn ra điều gì trên gương mặt ta, cuối cùng mới chậm rãi hỏi:

"Con... có giấu ai trong nhà không?"

Tay ta khẽ run lên, chiếc thìa trong bát cháo suýt rơi xuống đất, nhưng rất nhanh đã giả vờ bình tĩnh lắc đầu.

"Không có."

Phụ thân vẫn chưa dời mắt, chỉ khẽ nhướng mày.

"Thật không?"

Ta cố giữ vẻ mặt tự nhiên, cúi đầu múc thêm một thìa cháo, nhỏ giọng đáp:

"Nhà mình nghèo thế này... con giấu người làm gì?"

Phụ thân "ừ" một tiếng, không hỏi thêm nữa, nhưng trước khi quay người đi, ánh mắt lại vô thức lướt qua gian kho một lần nữa, khóe môi khẽ động như muốn cười rồi lại thôi, cuối cùng chỉ chắp tay sau lưng, chậm rãi bước ra sân với dáng vẻ vừa yên tâm được đôi phần, lại vừa như đang âm thầm tính toán điều gì đó.

Buổi tối hôm ấy, sau bữa cơm, phụ thân chẳng nói chẳng rằng lôi từ góc bếp ra một chiếc bẫy chuột đã cũ, đặt ngay trước cửa kho, rồi còn cẩn thận bốc một nắm tro bếp rắc thành một vòng mỏng quanh lối đi. Làm xong tất cả, ông chống cuốc ngắm nghía thành quả hồi lâu như thể vừa bày xong một thiên la địa võng, lúc này mới phủi phủi tay, quay sang dặn ta bằng giọng đầy chắc chắn:

"Nếu trong nhà thật sự có thứ gì đi lại vào ban đêm, sáng mai thế nào cũng để lại dấu chân."

Ta nhìn chiếc bẫy nằm chình ình trước cửa kho, trong lòng bỗng thấy thấp thỏm. Cũng không biết hắn có nhìn thấy hay không, lỡ đạp phải thì sao, lỡ để phụ thân bắt gặp thì sao, nghĩ tới nghĩ lui, cả đêm ngủ cũng chẳng yên.

Nào ngờ sáng hôm sau, phụ thân vừa bước ra sân đã cúi xuống nhìn vòng tro trước cửa kho. Mặt đất vẫn phẳng lì, lớp tro mịn nguyên vẹn như chưa từng có ai giẫm qua, chiếc bẫy chuột cũng nằm im đúng chỗ cũ, đến một cọng rơm mắc trên lẫy bẫy cũng chưa hề xê dịch.

Ông khẽ nhíu mày, vẻ mặt đầy nghi hoặc, bèn đi một vòng quanh sân xem xét. Thế nhưng khi vừa bước tới bờ ruộng phía nam, nơi hôm trước bị lợn rừng cày nát một khoảng đất, ông lại sững người. Đoạn bờ ruộng ấy chẳng biết từ bao giờ đã được đắp lại ngay ngắn, đất mới còn nguyên màu ẩm, trên mặt vẫn hằn những vết cuốc đều tăm tắp như vừa có người cặm cụi làm xong trong đêm.

Phụ thân đứng lặng hồi lâu, hết nhìn bờ ruộng lại cúi xuống nhìn đôi chân mình, rồi quay đầu ngó về phía vòng tro vẫn còn nguyên vẹn trước cửa kho, vẻ mặt càng lúc càng khó hiểu. Cuối cùng, ông vuốt chòm râu dưới cằm, chậm rãi gật đầu như vừa nghĩ thông được điều gì.

"Yêu quái... biết bay."

Ta quay đầu nhìn con hạc vẫn lững thững đi theo phía sau. Nó lập tức ngẩng cao chiếc cổ trắng muốt, bước chân khoan thai, vẻ mặt bình thản đến mức chẳng ai tin nổi đây chính là thủ phạm của hàng loạt chuyện rắc rối trong mấy ngày qua. Ban ngày, hắn vẫn chỉ là một con hạc phiền phức, hết lén ăn trộm hoa trong ruộng thuốc lại nằm giả chết để lừa ta mềm lòng, lúc cao hứng còn giẫm đổ cả giỏ dược liệu vừa hái, rồi cứ lặng lẽ bám theo ta khắp nơi, từ ruộng thuốc đến bờ suối, từ bờ suối vào tận cánh rừng, chẳng chịu rời nửa bước. Mỗi lần bị ta bắt quả tang, hắn cũng không hề có ý nhận sai, chỉ ung dung quay mặt sang chỗ khác, bày ra dáng vẻ vô tội đến mức nhìn vào cứ ngỡ người chịu oan uổng mới chính là hắn.

Có hôm ta mang cơm ra ruộng, cố ý không chuẩn bị phần của nó. Con hạc vẫn lững thững đi theo sau như mọi khi, dừng cách ta chừng ba bước rồi ngẩng cao đầu đứng đó, ánh mắt hờ hững nhìn về phía xa, từ đầu đến cuối chẳng buồn liếc chiếc giỏ tre trong tay ta lấy một lần, bộ dạng cao ngạo như thể dù có đói đến mấy cũng tuyệt đối không thèm để ý chút thức ăn của người khác. Ta cố nhịn cười, thong thả ngồi xuống gốc cây, ung dung ăn hết một miếng cơm mà nó vẫn đứng yên bất động. Đến khi ta chậm rãi lấy từ trong giỏ ra một quả trứng luộc còn nóng, chiếc cổ trắng muốt của nó mới khẽ nghiêng sang một bên như vô tình nhìn lướt qua. Ta tiếp tục chậm rãi bóc từng mảnh vỏ trứng, động tác càng thong thả bao nhiêu thì bước chân của nó càng lặng lẽ tiến lại gần bấy nhiêu, từ ba bước chỉ còn hai bước, rồi một bước, đến lúc ta vừa giơ quả trứng lên trước mặt, nó liền không nhịn được nữa, dang cánh lao thẳng tới. Ta đã sớm phòng bị, lập tức giấu quả trứng ra sau lưng. Con hạc phanh lại ngay trước mặt ta, đôi mắt đen láy chăm chăm nhìn theo cánh tay giấu trứng, gương mặt lạnh tanh, thần thái cao ngạo đến mức nếu không tận mắt chứng kiến toàn bộ quá trình vừa rồi, e rằng ngay cả ta cũng sẽ tưởng mình mới là kẻ vô cớ bắt nạt một vị quý nhân.

Ta nhìn nó, khẽ nhướng mày.

"Muốn ăn?"

Con hạc lập tức quay phắt đầu sang một bên, chiếc cổ vươn thẳng, bày ra dáng vẻ thanh cao như thể vừa rồi kẻ lặng lẽ tiến từng bước về phía quả trứng hoàn toàn không phải mình.

Ta cố nhịn cười, khẽ "ồ" một tiếng.

"Không muốn thì thôi."

Nói rồi ta thong thả đưa quả trứng lên miệng, còn cố ý cắn xuống thật chậm. Chỉ trong chớp mắt, con hạc đang đứng cách đó một bước đã lao thẳng tới, chiếc mỏ mổ chính xác vào cổ tay ta. Ta giật mình rụt tay về, ôm chặt quả trứng trước ngực.

"Ngươi còn dám cướp?"

Nó chẳng hề có ý nhận sai, chỉ xòe rộng đôi cánh trắng, bám riết phía sau. Ta ôm quả trứng chạy vòng quanh gốc cây, nó cũng lập tức đuổi theo, một người một hạc cứ thế xoay hết vòng này đến vòng khác, cỏ dưới chân bị giẫm rạp thành từng mảng. Đến lúc ta chỉ mải quay đầu đề phòng chiếc mỏ kia mà quên nhìn đường, cả hai đồng thời trượt chân, lăn thành một đống trên bãi cỏ mềm, còn quả trứng thì văng khỏi tay ta, lộc cộc lăn đi thật xa.

Đúng lúc ấy, phụ thân từ bờ ruộng đi ngang qua. Ông cúi người nhặt quả trứng lên, bình thản bóc nốt phần vỏ còn sót lại rồi ung dung cắn một miếng, mãi đến khi ăn gần hết mới nhìn sang hai chúng ta vẫn còn nằm dưới đất.

"Có mỗi quả trứng..." ông lắc đầu. "...cũng tranh nhau."

Ta chống tay ngồi dậy, còn con hạc vẫn nằm nguyên bên cạnh, đôi mắt đen lặng lẽ dõi theo từng miếng trứng biến mất trong tay phụ thân. Ánh mắt ấy đau đớn đến mức chẳng khác nào đêm nọ, khi hắn nghe ta nói trong nhà đã hết thức ăn.

Ta quay sang nhìn nó.

Nó cũng chậm rãi quay đầu nhìn ta.

Một người một hạc nhìn nhau hồi lâu, rồi chẳng ai nói một lời, chỉ lặng lẽ cùng lúc quay mặt sang hai hướng khác như thể chưa từng xảy ra chuyện gì.

Ban ngày, hắn vẫn là con hạc phiền phức khiến ta dở khóc dở cười, nhưng chỉ cần màn đêm buông xuống, hắn lại như biến thành một người hoàn toàn khác. Hắn không còn lén ăn hoa trong ruộng thuốc, cũng chẳng giả chết để lừa ta mềm lòng hay tranh giành từng quả trứng như ban sáng, chỉ lặng lẽ làm hết việc này đến việc khác trong nhà, tựa như muốn dùng chút sức lực còn lại đổi lấy mỗi bữa cơm và một chỗ trú chân. Chum nước trong sân chưa bao giờ cạn, đống củi ngoài bếp lúc nào cũng được bổ đầy, mái bếp dột được vá lại từ lúc nào chẳng ai hay, những nia dược liệu luôn được đưa vào hiên trước khi hơi sương kịp phủ xuống, thậm chí có những đêm lợn rừng thường xuống phá ruộng, hắn còn lặng lẽ mang cuốc ra ngồi canh đến tận sáng.

Một đêm, ta mang theo chiếc áo choàng bước ra bờ ruộng tìm hắn. Từ xa đã thấy hắn ngồi một mình trên tảng đá lớn, bóng lưng lặng im dưới ánh trăng, đôi mắt chỉ lặng lẽ hướng về dãy núi sâu phía xa như đang cố tìm kiếm điều gì đã thất lạc từ rất lâu. Ta chậm rãi bước tới, dừng bên cạnh hắn rồi khẽ hỏi:

"Ngươi... nhớ ra điều gì rồi sao?"

Hắn khẽ lắc đầu.

Ta cũng không hỏi thêm, chỉ nhẹ nhàng khoác chiếc áo lên vai hắn, kéo lại phần cổ áo đang bị gió đêm thổi lệch rồi khẽ cười.

"Không nhớ thì thôi. Có những chuyện càng cố nhớ lại càng đau đầu, biết đâu một ngày nào đó tự khắc sẽ nhớ ra."

Hắn cúi đầu nhìn chiếc áo choàng phủ trên vai mình hồi lâu, hàng mi khẽ động, đến lúc mở miệng, giọng nói vẫn rất thấp.

"Ngươi... không sợ ta sao?"

Ta im lặng một lúc rồi thành thật gật đầu.

"Có."

Hắn ngẩng đầu nhìn ta, trong đôi mắt thoáng hiện chút ngạc nhiên.

"Vậy vì sao còn để ta ở lại?"

Ta chống cằm suy nghĩ hồi lâu, rồi nghiêm túc đưa ra kết luận.

"Ban ngày ngươi ăn hoa nhà ta, ban đêm lại giúp ta canh ruộng, gánh nước, chẻ củi. Tính đi tính lại... nếu ngươi chịu bớt ăn một chút thì nhà họ Tạ vẫn chưa đến mức lỗ vốn."

Hắn không đáp, chỉ lặng lẽ ngồi đó, ánh mắt vẫn hướng về phía màn đêm phía trước.

Ta nghiêng đầu nhìn hắn, càng nhìn càng thấy có gì đó không đúng, bèn hơi nhích người lại gần.

"Ngươi... vừa cười à?"

Hắn bình thản lắc đầu.

"Không."

Ta nheo mắt, nhìn chằm chằm khóe môi hắn một lúc lâu rồi quả quyết nói:

"Ta rõ ràng nhìn thấy khóe miệng ngươi vừa động."

Hắn vẫn giữ nguyên vẻ mặt thản nhiên, giọng nói đều đều như cũ.

"Gió thổi."

Ta ngẩn người mất một lúc, rồi suýt nữa bật cười thành tiếng. Câu trả lời ấy... nghe quen vô cùng, chẳng khác gì bộ dạng con hạc ban ngày mỗi lần bị ta bắt quả tang ăn vụng, rõ ràng trong mắt đã đầy vẻ chột dạ nhưng vẫn nhất quyết quay đầu sang chỗ khác, như thể chỉ cần không chịu thừa nhận thì mọi chuyện chưa từng xảy ra.

Cứ thế, ngày này nối tiếp ngày khác trôi qua, nhà họ Tạ cũng dần quen với sự hiện diện của hắn. Ban ngày, trong sân luôn có thêm một con hạc trắng đủng đỉnh đi qua đi lại, lúc thì đứng bên ruộng thuốc ngó nghiêng, lúc lại lẽo đẽo theo ta khắp nơi như một chiếc đuôi biết mọc cánh; còn khi màn đêm buông xuống, con hạc ấy lại hóa thành một nam nhân lặng lẽ ngồi trước bếp lửa, âm thầm làm hết việc này đến việc khác trong nhà. Ta không còn giật mình mỗi khi sáng sớm mở cửa đã thấy nó đứng ngoài hiên nghiêng đầu nhìn mình, cũng chẳng còn cảnh giác mỗi lần bắt gặp hắn ngồi bên ánh lửa với vẻ mặt trầm mặc như thuở ban đầu. Hắn cũng dần thôi nhìn ta bằng ánh mắt của một người lạc vào nơi xa lạ, đôi khi chỉ cần ta vừa xách giỏ tre bước khỏi cổng, con hạc đã lặng lẽ đứng dậy đi theo, chẳng cần gọi cũng chẳng cần đuổi; còn những hôm ta mải làm việc ngoài ruộng đến tận khi trời tối mới trở về, vừa đẩy cửa bước vào đã thấy chum nước đầy ắp, đống củi dưới mái hiên được xếp ngay ngắn, bếp lửa vẫn còn âm ỉ đỏ, cơm trong nồi cũng vẫn còn giữ nguyên hơi ấm, như thể trong ngôi nhà nhỏ ấy từ lúc nào đã có thêm một người vẫn luôn lặng lẽ đợi ta trở về.

Từ đó về sau, phụ thân càng tin chắc nhà họ Tạ thật sự có một con yêu quái siêng năng ở nhờ. Ông không còn bận tâm chuyện truy tìm tung tích của nó nữa, trái lại, mỗi tối trước khi đi ngủ lại lặng lẽ đi một vòng quanh sân, hết ngó mái bếp đến nhìn chuồng gà, rồi dừng trước những món đồ đã cũ hỏng, trầm ngâm hồi lâu như đang cân nhắc điều gì.

Một đêm, ông cố ý dựng giữa sân một chiếc cuốc đã gãy cán từ mấy hôm trước. Sáng hôm sau thức dậy, chiếc cuốc vẫn nằm đúng chỗ cũ, chỉ khác là phần cán gỗ đã được thay mới, nhẵn mịn, vừa tay cầm, ngay cả chỗ nối giữa cán và lưỡi cuốc cũng được nêm chặt bằng nêm gỗ. Phụ thân cầm lên ngắm nghía hồi lâu, thử vung vài cái rồi vuốt dọc theo thân cán, vẻ mặt hết sức hài lòng.

"Yêu quái này... tay nghề không tệ."

Hôm sau nữa, chiếc ghế tre trong nhà bỗng được đặt chênh vênh ngay giữa hiên. Đến sáng, những mộng tre lỏng lẻo đều đã được buộc lại cẩn thận, ngồi lên vững vàng như mới. Lại thêm một đêm khác, phụ thân chẳng biết từ lúc nào đã lôi cả chiếc cối xay đá bị kẹt nhiều ngày ra đặt trước cửa bếp.

Đến đây thì ngay cả ta cũng không nhịn nổi nữa.

"Cha..." ta nhìn chiếc cối rồi lại nhìn phụ thân. "...cha đang sai khiến yêu quái đấy à?"

Phụ thân chống cuốc đứng giữa sân, nghe vậy chỉ chậm rãi vuốt chòm râu dưới cằm, vẻ mặt nghiêm túc như đang bàn chuyện rất đỗi hiển nhiên.

"Nó ở nhờ nhà ta."

Ông dừng một chút rồi bình thản nói tiếp:

"Làm chút việc cũng phải."

Nói xong, ông ung dung xách cuốc ra đồng như thể chuyện ấy vốn dĩ là lẽ thường, chỉ để lại ta đứng giữa sân dở khóc dở cười, còn con hạc trắng ở góc sân thì lặng lẽ quay đầu sang hướng khác, không biết là không nghe thấy, hay nghe thấy rồi cũng đành giả vờ như không.

Ta chỉ biết im lặng. Nghĩ đi nghĩ lại, cũng chẳng thể trách riêng phụ thân, bởi nếu đổi lại là ta, có lẽ ta cũng sẽ làm như vậy. Quả nhiên... hai cha con nhà họ Tạ đều chẳng khác nhau là mấy.

Đêm ấy, nam nhân ngồi trước chiếc cối xay đến tận gần sáng. Tiếng đá nghiến vào nhau, tiếng đục gõ lên từng chiếc chốt gỗ thỉnh thoảng lại vang lên giữa màn đêm yên tĩnh. Đến khi chiếc cối quay thử một vòng trơn tru, hắn mới chậm rãi đứng dậy, trên vạt áo đã lấm tấm bụi gỗ.

Ta bưng một bát canh nóng bước tới, lặng lẽ đặt xuống bên cạnh. Hắn nhận lấy, hai tay ôm bát sứ sưởi ấm một lúc rồi uống từng ngụm nhỏ, chẳng mấy chốc đã cạn sạch.

Đặt chiếc bát xuống, hắn ngẩng đầu nhìn ta, giọng nói vẫn bình thản như mọi khi.

"Cha ngươi... còn đồ gì hỏng không?"

Ta nhìn hắn một lúc thật lâu. Dưới ánh đèn dầu leo lét, vẻ mặt hắn vẫn nghiêm túc như đang hỏi một chuyện hết sức bình thường, hoàn toàn không có lấy nửa lời oán trách. Không hiểu vì sao, trong lòng ta bỗng dâng lên một chút áy náy.

"Có."

Đôi mắt hắn khẽ sáng lên, chờ ta nói tiếp.

Ta mím môi cố nhịn cười.

"Nhưng... ta giấu hết rồi."

Hắn nhìn ta rất lâu, rất lâu, rồi nơi khóe môi vốn luôn mím chặt khẽ cong lên một chút, nhẹ đến mức nếu không nhìn kỹ có lẽ đã bỏ lỡ. Lần này thì không thể đổ cho gió nữa rồi.

Ta cũng kéo một chiếc ghế nhỏ ngồi xuống cạnh hắn. Ánh đèn dầu hắt lên gương mặt ấy, làm những đường nét vốn lạnh lùng trở nên mềm đi đôi chút, cũng khiến ta chợt nhận ra chỉ trong mấy ngày ngắn ngủi, cằm hắn đã gầy đi một chút. Rõ ràng mỗi bữa đều ăn nhiều hơn người thường gấp mấy lần, vậy mà dường như cơn đói đang ẩn sâu trong cơ thể vẫn chưa bao giờ thật sự được lấp đầy.

Ta khẽ thở dài.

"Ngày mai ta sẽ nấu thêm."

Hắn ngước mắt nhìn ta rồi rất khẽ lắc đầu.

"Không cần."

Ta chống cằm nhìn hắn, khóe môi cong lên.

"Lời ấy... chính ngươi tin được sao?"

Hắn im lặng một lúc, cúi đầu nhìn chiếc bát canh đã sạch đến đáy, như thể đang suy nghĩ rất nghiêm túc. Một lát sau, hắn mới chậm rãi lên tiếng.

"...Có thể thêm một chiếc bánh."

Ta nhìn vẻ mặt nghiêm túc của hắn, cuối cùng vẫn không nhịn được mà bật cười thành tiếng.

Ngoài sân, gió đêm lướt nhẹ qua ruộng hoa, mang theo hương thơm dìu dịu len qua khung cửa sổ nhỏ rồi lặng lẽ tràn vào gian bếp. Trong khoảnh khắc ấy, ta bỗng có một cảm giác rất kỳ lạ, như thể người trước mặt vốn đã sống trong nhà họ Tạ từ rất lâu, lâu đến mức chiếc ghế hắn thường ngồi, chiếc bát hắn vẫn dùng mỗi bữa cơm, hay cả cái bóng đang in nghiêng trên vách gỗ cũng trở thành một phần tự nhiên của nơi này, giống như chúng vốn dĩ phải tồn tại ở đó từ trước.

Chỉ tiếc rằng sự bình yên ấy chẳng kéo dài được bao lâu.

Khi hắn đứng dậy định mang chiếc bát vào bếp, một vật nhỏ từ trong vạt áo bất ngờ trượt xuống nền đất, phát ra tiếng va chạm khẽ đến mức nếu không gian bếp quá yên tĩnh có lẽ ta cũng chẳng để ý. Ta cúi đầu nhìn theo, lập tức nhận ra đó chính là miếng ngọc bội đêm đầu tiên hắn để lại trong bếp nhà ta. Dưới ánh đèn dầu leo lét, mặt ngọc trong suốt ánh lên sắc sáng dịu dàng, những đường vân mờ như mây nổi chồng lên nhau, còn chính giữa là hình một con rồng đang uốn mình giữa sóng nước, từng nét chạm tinh xảo, uy nghi đến mức chỉ cần nhìn qua cũng biết tuyệt đối không thể là vật của người dân bình thường.

Hắn chậm rãi cúi người xuống nhặt. Thế nhưng ngay khi đầu ngón tay vừa chạm vào mặt ngọc, cả người hắn bỗng khựng lại như bị thứ gì đó giữ chặt. Chiếc bát đang cầm trong tay khẽ nghiêng, va xuống mặt bàn tạo nên một tiếng "cạch" khô khốc.

Ta lập tức đứng bật dậy.

"Ngươi sao vậy?"

Hắn không trả lời.

Ánh mắt hắn vẫn dừng trên mặt ngọc, đồng tử khẽ co lại, sắc mặt vốn bình tĩnh bỗng tái đi từng chút một, như thể có vô số mảnh ký ức sắc bén đồng loạt xé toạc màn sương đang phủ kín trong đầu. Ta bước tới nắm lấy cánh tay hắn, chỉ cảm thấy cả người hắn lạnh đến đáng sợ.

"Ngươi... nhớ ra điều gì rồi sao?"

Hơi thở hắn bỗng trở nên dồn dập. Trong đôi mắt đang nhìn chằm chằm vào miếng ngọc kia, ánh đèn nhỏ của gian bếp dần tan đi, thay vào đó chỉ còn những mảnh hình ảnh vụn vỡ chợt lóe lên rồi biến mất: một bức tường thành cao đến không thấy đỉnh, mái ngói lưu ly phủ trắng tuyết, hành lang đỏ hun hút nối mãi về phía xa, tiếng chuông ngọc khe khẽ rung trong gió, rồi vô số bóng người quỳ rạp xuống như những gợn sóng lan dài dưới bậc thềm đá... Tất cả hiện lên chỉ trong chớp mắt rồi lại vỡ tan như mặt nước bị ném đá, nhanh đến mức ngay cả hắn cũng không kịp nắm lấy.

Phải rất lâu sau, bàn tay đang nắm chặt miếng ngọc mới khẽ run lên. Hắn cúi đầu, giọng nói khàn đặc như vừa bị ai đó bóp nghẹn nơi cổ họng.

"Ta... từng sống ở một nơi có những bức tường rất cao."

Ta không dám lên tiếng, chỉ lặng lẽ đứng bên cạnh chờ hắn nói tiếp.

Hắn khép mắt lại, sắc mặt trắng bệch như người vừa trải qua một cơn ác mộng.

"Có... rất nhiều người từng quỳ trước mặt ta."

Không biết từ khi nào, cơn gió ngoài cửa đã lặng hẳn. Cả ruộng hoa cũng đứng yên trong màn đêm, những cánh hoa không còn lay động, như thể cả vùng đất Tây Lăng đều đang nín thở lắng nghe từng lời hắn nói.

Một lúc sau, hắn chậm rãi mở mắt. Trong đôi mắt ấy, lần đầu tiên ta nhìn thấy một nỗi hoang mang sâu đến mức khiến người khác chỉ muốn đưa tay kéo hắn trở lại, nhưng lại không biết phải bắt đầu từ đâu. Hắn nhìn ta rất lâu, rất lâu, rồi khẽ gọi bằng giọng gần như chỉ còn là hơi thở.

"Thanh Ninh..."

Đây là lần đầu tiên hắn gọi tên ta.

Hắn siết chặt miếng ngọc trong lòng bàn tay, từng chữ thốt ra đều rất chậm.

"Ta... từng sống trong cung."

Lên đầu trang