Chương 5 – Cánh Cổng Đá Trong Sương

9,644 words · 49 min read

Ngọn đèn dầu trong gian bếp đã cháy đến lúc dầu gần cạn, ánh lửa leo lét hắt lên miếng ngọc trong tay hắn, còn ngoài hiên chỉ còn tiếng cành táo khẽ chạm vào mái ngói theo từng cơn gió đêm; hắn vẫn ngồi đối diện ta, từ lúc nhìn thấy miếng ngọc ấy đến giờ gần như chưa hề đổi tư thế, sắc mặt cũng chưa thật sự bình thường trở lại, còn ta chỉ lặng lẽ ngồi chờ, không muốn cắt ngang dòng ký ức vừa mới mở ra.

Ký ức của con người đôi khi giống một sợi chỉ đã đứt, càng nóng lòng nối lại càng dễ khiến nút thắt siết chặt hơn, chỉ có thể đặt nó dưới ánh sáng, kiên nhẫn chờ từng đầu sợi tự tìm thấy nhau, vì thế ta không hề thúc giục, chỉ lặng lẽ ngồi đối diện nhìn hắn.

Rất lâu sau, hắn mới cất tiếng.

“Ta... nhớ được một ít.”

Ta khẽ ngẩng đầu.

“Là chuyện gì?”

Hắn nhìn vào ngọn đèn dầu, nhưng ánh mắt dường như đã xuyên qua ngọn lửa nhỏ đang lay động, rơi xuống một nơi rất xa, rất xa trong quá khứ.

“Có một đoàn người.”

“Đông không?”

“Không nhớ rõ.”

“Có ai ngươi nhận ra không?”

Hắn chậm rãi lắc đầu.

“Chỉ nhớ... tiếng vó ngựa.”

Ngoài hiên, gió đêm khẽ lướt qua cành táo, mấy chiếc lá khô cọ vào nhau phát ra những âm thanh rất nhỏ, còn hắn cũng từ từ khép mắt lại, như đang lần theo những mảnh ký ức vừa mới hiện lên rồi lại sắp sửa tan biến.

“Ngựa chạy rất nhanh... Có rất nhiều người gọi nhau... còn có cả tiếng dây cung bật lên... Ta ở giữa một khu rừng rất sâu.”

Ta nhìn bàn tay đang siết chặt miếng ngọc của hắn, các đốt ngón tay đã trắng bệch từ lúc nào.

“Lúc ấy... ngươi đang đi săn sao?”

“Có lẽ.”

“Vậy ngươi đi cùng đoàn người?”

“Ừ.”

Ta im lặng suy nghĩ một lúc rồi mới chậm rãi hỏi tiếp:

“Nếu khi ấy ngươi đi cùng cả đoàn, vì sao sau đó lại tách khỏi mọi người?”

Hắn không trả lời ngay, chỉ lặng lẽ cúi đầu nhìn miếng ngọc trong tay, lâu đến mức ta tưởng câu hỏi ấy đã chìm hẳn vào khoảng trống của những ký ức đứt đoạn, mãi sau đôi môi mới khẽ động, giọng nói rất thấp, như thể ngay cả chính hắn cũng sợ sẽ đánh mất âm thanh vừa hiện lên trong đầu.

“Có... tiếng hạc.”

Ta hơi khựng lại.

“Tiếng hạc?”

Hắn khẽ gật đầu.

“Từ rất sâu trong rừng vọng ra.”

Giọng nói của hắn càng lúc càng nhỏ, như thể chỉ cần lớn hơn thêm một chút thì những âm thanh đang vang vọng trong ký ức sẽ lập tức tan biến, hắn khẽ khép mắt, từng câu từng chữ đều phải mất rất lâu mới có thể thốt ra.

“Ta cưỡi ngựa đi theo... càng đi sâu, sương càng dày... rồi phía trước xuất hiện một cánh cổng đá.”

Ta không dám cắt ngang dòng hồi ức của hắn, chỉ nhẹ giọng hỏi:

“Cánh cổng ấy trông thế nào?”

“Rất cũ.”

“Có người canh giữ không?”

Hắn nhíu mày, dường như đang cố lục tìm thêm một mảnh ký ức đã chìm quá sâu, nhưng cuối cùng chỉ khẽ lắc đầu.

“Không nhớ.”

Ta lại hỏi:

“Trên cổng... có khắc chữ không?”

“Có lẽ từng có.”

Hắn chậm rãi đáp.

“Nhưng đã mòn hết.”

Ta nhìn hắn thật lâu rồi hỏi tiếp:

“Vậy sau đó... ngươi đã bước qua cánh cổng ấy?”

Lần này hắn không trả lời ngay, chỉ đưa tay day nhẹ giữa hai hàng mày, vẻ đau đớn thoáng hiện trên gương mặt như thể càng cố nhớ, đầu óc càng bị xé thành từng mảnh.

“Ta... không biết.”

Khoảng lặng kéo dài hồi lâu.

Hắn vẫn giữ nguyên tư thế ấy, mãi đến khi bàn tay đang day trán chậm rãi buông xuống mới khẽ nói tiếp, giọng nói gần như chỉ còn là hơi thở.

“Ta chỉ nhớ... từ phía bên kia cánh cổng luôn có tiếng hạc vọng lại.”

Hắn ngừng một chút.

“Không phải một tiếng.”

“Mà là... rất nhiều tiếng.”

Ta thấy sắc mặt hắn càng lúc càng trắng, bàn tay cầm miếng ngọc cũng run lên rất khẽ, liền vươn tay lấy miếng ngọc khỏi lòng bàn tay hắn, nhẹ nhàng đặt xuống mặt bàn.

“Không nhớ thì thôi.”

Hắn vẫn nhìn chằm chằm vào miếng ngọc.

“Ta còn có thể nghĩ tiếp.”

Ta bật cười, cố ý kéo hắn ra khỏi những mảnh ký ức nặng nề.

“Ngươi cứ nghĩ tiếp kiểu này, có khi chưa kịp nhớ ra chuyện cũ đã ngất trước rồi, sáng mai phụ thân thức dậy nhìn thấy trong nhà lại có thêm một người bệnh thì biết ăn nói thế nào.”

Hắn chậm rãi mở mắt nhìn ta, trong ánh mắt đã bớt đi vẻ mơ hồ của những mảnh ký ức vừa hiện lên, thay vào đó là một chút bình tĩnh hiếm hoi.

“Ông ấy đã biết trong nhà có thêm một người.”

Ta khựng lại.

“Ngươi biết?”

Hắn khẽ gật đầu, giọng nói vẫn bình thản như thể đó là chuyện hiển nhiên.

“Ta không mù.”

Ta bất giác hạ thấp giọng.

“Nhưng... phụ thân chưa từng hỏi.”

“Không hỏi...”

Hắn nhìn ra màn đêm ngoài hiên, khóe mắt khẽ trầm xuống.

“...không có nghĩa là không biết. Có đêm ông ấy tỉnh giấc, nhìn thấy ta gánh nước; cũng có lần trời sắp mưa, ta đang chuyển dược liệu vào dưới mái hiên, ông ấy chỉ đứng trong bếp nhìn rất lâu, từ đầu đến cuối đều không nói gì.”

Ta lặng người, hồi lâu mới bật ra một tiếng thở dài đầy bất lực.

“Vậy mà ta cứ tưởng mình giấu rất khéo.”

Khóe môi hắn khẽ cong lên.

“Người giấu kém nhất trong nhà... là ngươi.”

Ta ngẩng đầu.

Ánh mắt hai người vừa lúc chạm nhau.

Hắn không né tránh, cũng chẳng có ý sửa lại lời mình vừa nói, chỉ bình thản nhìn ta, còn ta thì chẳng hiểu vì sao lại thấy có chút chột dạ, đành lặng lẽ kéo chén nước trên bàn đẩy về phía hắn.

“Uống đi.”

Hắn nhìn chén nước, rồi nhìn ta.

“Ngươi giận?”

“Không.”

“Vậy sao tự dưng lại im lặng?”

Ta chống cằm, nghiêm túc suy nghĩ hồi lâu rồi mới chậm rãi đáp:

“Ta đang nghĩ... sáng mai phụ thân còn việc gì để giao cho ngươi làm nữa.”

Khóe môi hắn khẽ cong lên, nụ cười lần này hiện rõ hơn trước, tuy vẫn rất nhạt, mỏng như một vệt nắng cuối chiều, nhưng cũng đủ khiến bầu không khí trong căn bếp bỗng trở nên ấm áp hơn.

Đêm ấy, chúng ta rời gian bếp khi trời đã rất khuya, mang theo những mảnh ký ức vừa tìm lại được và cả một sự bình yên mà từ lúc hắn tỉnh dậy đến nay, ta chưa từng thấy hiện trên gương mặt hắn.

Hắn trở về gian chứa củi phía sau nhà, còn ta cũng lặng lẽ trở vào phòng, khép cửa, tắt ngọn đèn dầu rồi nằm xuống giường.

Tiếng lá táo ngoài sân vẫn xào xạc theo từng cơn gió đêm, nhưng chẳng biết từ lúc nào, âm thanh ấy dần hóa thành tiếng gió rít vun vút giữa rừng sâu, màn sương trắng từ bốn phía lặng lẽ dâng lên, che khuất cả lối mòn trước mắt. Giữa biển sương mịt mùng, một con đường nhỏ thấp thoáng hiện ra rồi lại biến mất, như đang dẫn về nơi không ai từng đặt chân tới.

Ta cứ thế bước theo con đường ấy, cho đến khi phía trước vọng lại từng hồi hạc kêu, lúc gần lúc xa, lúc rõ lúc mờ, như có ai đang không ngừng gọi tên một người đã lạc mất từ rất lâu...

Ta bừng tỉnh.

Ánh nắng buổi sớm đã rơi đầy ngoài hiên. Đàn hạc trắng trên cánh đồng hoa vừa đáp xuống, tiếng vỗ cánh và tiếng hạc gọi nhau theo gió truyền đến tận sân nhà. Ta ngồi lặng trên giường, lắng nghe âm thanh ấy hồi lâu, rồi bất giác khẽ nhíu mày.

Tiếng hạc ta vừa nghe...

Rốt cuộc là vọng về từ giấc mơ.

Hay từ chính buổi sáng ngoài kia.

Theo thói quen, ta mở cửa, nghĩ sẽ nhìn thấy con hạc trắng đang đứng dưới mái hiên, hoặc nằm co một chân bên cây táo, làm bộ thanh cao như thể tối qua không phải nó ăn hết nửa đĩa bánh.

Nhưng ngoài sân hôm nay không có hạc. Thay vào đó, hắn đang đứng bên giếng, tay áo xắn quá khuỷu, thong thả kéo từng gàu nước từ dưới lòng giếng sâu lên, để những giọt nước trong veo theo thành gàu nhỏ xuống nền đá.

Trời đã sáng hẳn, chim sẻ vẫn ríu rít chuyền cành trên cây táo, phụ thân vẫn ngồi bên bếp nhóm lửa, làn khói mỏng chầm chậm bay lên hòa vào ánh nắng sớm, cả khoảng sân đều mang dáng vẻ yên bình như mọi buổi sáng. Chỉ có hắn là khác. Hắn vẫn giữ nguyên hình người.

Ta đứng lặng nơi cửa phòng rất lâu, ánh mắt từ đầu đến cuối vẫn dừng trên người hắn, đến mức hắn như cảm nhận được điều gì đó nên chậm rãi quay đầu nhìn sang.

“Ngươi nhìn gì?”

“Ngươi.”

Hắn hơi nhíu mày, cúi đầu nhìn lại chính mình rồi ngẩng lên hỏi:

“Ta có gì lạ?”

Ta không đáp ngay, chỉ nhìn hắn thêm một lúc rồi mới chậm rãi nói:

“Ngươi... vẫn chưa biến lại.”

Nghe vậy, hắn mới cúi nhìn đôi tay mình, hết nhìn những ngón tay rồi lại khẽ siết mở bàn tay như muốn xác nhận điều gì, dường như đến lúc ấy mới nhận ra mình vẫn còn giữ nguyên hình người.

Ánh mắt hai người khẽ chạm nhau, chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, trong lòng ta bỗng dâng lên một niềm vui rất nhỏ, nhỏ đến mức chính ta lúc đầu cũng không dám tin đó là vui, chỉ thấy lồng ngực như nhẹ đi một chút mà chẳng hiểu vì sao.

Đúng lúc ấy, phụ thân từ trong bếp chậm rãi bước ra. Ông nhìn hắn, rồi nhìn hai thùng nước đã đầy bên giếng, ánh mắt bình thản lướt qua mọi thứ như thể đó chỉ là một buổi sáng bình thường. Ông không hỏi hắn là ai, cũng không hỏi vì sao một nam nhân xa lạ lại có mặt trong sân nhà mình từ sáng sớm, chỉ thong thả bước đến, đưa tay nhấc thử đòn gánh lên, ước lượng sức nặng một chút rồi mới chậm rãi cất tiếng:

“Dây bên trái ngắn hơn một chút.”

Hắn theo bản năng cúi xuống nhìn, còn phụ thân thì đã bước tới trước, khom người chỉnh lại nút buộc trên đòn gánh, đầu ngón tay thoăn thoắt siết lại mối dây rồi mới khẽ vỗ một cái như để thử độ chắc.

“Gánh như vậy lâu ngày sẽ đau vai.”

“Vâng.”

Phụ thân đứng thẳng dậy, phủi phủi hai bàn tay dính bụi rồi thong thả nói tiếp:

“Chiếc chum phía sau bếp vẫn chưa đầy.”

Hắn khẽ gật đầu, không nói thêm lời nào, chỉ xách hai thùng nước bước về phía sau nhà.

Ta lặng lẽ nhìn theo bóng lưng hắn cho đến khi khuất sau mái bếp, lúc ấy mới quay sang nhìn phụ thân, trong lòng vẫn còn nguyên một bụng thắc mắc.

“Cha.”

“Ừ?”

“Cha... không thấy lạ sao?”

Phụ thân cúi xuống nhặt mấy cành củi vừa rơi bên bếp, vừa xếp gọn lại vừa bình thản hỏi:

“Lạ chuyện gì?”

Ta ngập ngừng một lát rồi mới nhỏ giọng đáp:

“Trong nhà... có thêm một người.”

Phụ thân không ngẩng đầu, vẫn bình thản ôm bó củi trong tay, như thể câu hỏi của ta chẳng có gì đáng để ngạc nhiên.

“Nhà ta mấy hôm nay, nước tự đầy, dược liệu cứ đến lúc trời mưa lại tự được mang vào dưới mái hiên, ngay cả bó củi ngoài sân cũng chẳng biết từ khi nào tự chạy vào tận trong bếp. Ta còn tưởng... con định giấu đến ngày mái nhà cũng tự thay ngói mới.”

Ta nghẹn lời, nhất thời chẳng biết phải đáp lại thế nào.

Phụ thân ôm bó củi chậm rãi đi ngang qua người ta, đến trước cửa bếp thì dừng chân, vẫn quay lưng về phía ta mà cất giọng điềm đạm.

“Nó không muốn nói... thì đừng hỏi.”

Nói xong, ông mới khẽ nghiêng đầu nhìn về phía sau nhà, nơi hắn đang gánh hai thùng nước chậm rãi bước về phía chiếc chum sau bếp, khóe môi bất giác hiện lên một nụ cười nhàn nhạt.

“Nhưng...”

Ông thong thả nói tiếp.

“Đã ở nhờ nhà người khác thì làm chút việc cũng là lẽ phải.”

Ta cũng quay đầu nhìn theo.

Hắn đang cúi bên chiếc chum nước, hai tay chống lên thành chum nghỉ một lát, khóe môi hình như khẽ cong lên thành một nụ cười rất nhạt, nhạt đến mức nếu không nhìn kỹ sẽ dễ dàng bỏ lỡ.

Còn ta thì chẳng hiểu vì sao, cứ vô thức đi theo hắn hết chỗ này đến chỗ khác. Hắn gánh đầy hai chum nước, ta đứng bên giếng nhìn; hắn giúp phụ thân chuyển từng nia dược liệu ra sân phơi nắng, ta lại ngồi dưới mái hiên nhặt từng chiếc lá úa; đến khi hắn theo chúng ta ra ruộng, cúi người nhổ cỏ quanh những gốc cây thuốc, ta cũng lững thững bước theo sau, ghé lại gần đến mức suýt giẫm lên bàn tay hắn đang chống dưới đất.

Mười hai con hạc trắng vẫn đứng ngoài ruộng hoa như mọi ngày.

Lúc hắn còn mang hình hạc, chúng thường lặng lẽ đứng thành một hàng cách hắn không xa, không xua đuổi nhưng cũng chưa từng thật sự tiến lại gần; còn hôm nay, khi hắn mang hình người đi giữa những luống dược liệu, cả đàn lại đồng loạt ngẩng đầu nhìn theo, mười hai chiếc cổ trắng chậm rãi xoay chuyển theo từng bước chân hắn, như thể chúng biết rất rõ nam nhân đang cúi mình xới đất giữa ruộng kia chính là con hạc thứ mười ba mà hôm qua vẫn còn đứng lẫn giữa bầy.

Ta đưa mắt nhìn về phía mười hai con hạc vẫn đứng ngoài ruộng hoa, trong lòng bỗng nảy ra một ý nghĩ, liền khẽ hỏi:

“Chúng có nhận ra ngươi không?”

Hắn cũng ngẩng đầu nhìn theo đàn hạc, ánh mắt dừng trên những chiếc lông trắng đang khẽ lay động trong gió.

“Có lẽ.”

“Vậy sao chúng không đến gần?”

“Có thể... chúng đang đợi.”

“Đợi gì?”

Hắn không trả lời ngay, chỉ lặng lẽ nhìn đàn hạc thêm một lúc lâu rồi khẽ lắc đầu.

“Ta cũng không biết.”

Nói xong, hắn cúi xuống tiếp tục nhổ cỏ, nhưng vừa làm được một lát lại như chợt nhận ra ánh mắt của ta vẫn luôn bám theo mình, liền ngẩng đầu nhìn sang.

“Ngươi sợ ta biến thành hạc?”

Ta lắc đầu.

“Không.”

“Vậy vì sao cứ nhìn ta mãi?”

Ta nghiêm túc đáp:

“Ta đang xem ngươi có nhổ nhầm cây thuốc nhà ta không.”

Hắn cúi nhìn nắm cỏ trong tay, cẩn thận xem lại một lượt rồi mới bình thản nói:

“Ta chưa nhổ nhầm.”

“Chính vì chưa nhổ nhầm nên càng phải nhìn.”

Hắn ngẩng đầu, trong mắt thoáng hiện vẻ khó hiểu.

“Vì sao?”

Ta đáp ngay, vẻ mặt còn nghiêm túc hơn cả lúc nãy.

“Đề phòng lát nữa ngươi nhổ nhầm.”

Hắn im lặng.

Một lúc sau mới bất lực hỏi:

“Ngươi... không có việc gì làm sao?”

Ta cúi xuống nhặt một chiếc lá úa vốn chẳng cần phải nhặt, làm bộ như mình bận rộn lắm.

“Ta đang làm đây.”

“Làm gì?”

Ta giơ chiếc lá trong tay lên lắc lắc, rồi thản nhiên đáp:

“Trông chừng ngươi.”

Đến gần trưa, phụ thân nhóm thêm lửa dưới bếp, chuẩn bị nấu cơm. Ông liếc nhìn hắn vẫn đang cúi mình ngoài ruộng, lại nhìn chiếc đấu gạo trong góc nhà, im lặng một lát rồi cầm gáo xúc thêm hai đấu gạo đổ vào nồi.

Ta đứng bên cạnh nhìn thấy, không nhịn được hỏi:

“Cha không sợ tốn gạo sao?”

Phụ thân đậy nắp nồi lại, giọng vẫn điềm nhiên như mọi khi.

“Người làm việc thì phải ăn.”

Đến bữa trưa, hắn bình thản ngồi xuống bên bàn, còn phụ thân chẳng nói gì, chỉ lặng lẽ xới đầy một bát cơm rồi đặt trước mặt hắn, giọng vẫn điềm đạm như mọi khi.

“Ăn cho no.”

“Vâng.”

Hắn nhận lấy bát cơm bằng hai tay, cúi đầu nhìn một lúc như thể đó là chuyện rất đáng để suy nghĩ, rồi lại chậm rãi đưa mắt sang nồi cơm vẫn còn nghi ngút khói đặt giữa bàn, vẻ mặt nghiêm túc đến mức khiến ta cũng bất giác nhìn theo.

“Nếu ăn no... có hết cơm không?”

Bàn tay đang cầm muôi của phụ thân khựng lại giữa không trung, ông im lặng hồi lâu, có lẽ đây là lần đầu tiên trong đời phát hiện một câu hỏi tưởng chừng đơn giản lại khó trả lời đến vậy.

Ta không nhịn được, khẽ bật cười, thuận tay đẩy bát của mình sang trước mặt hắn.

“Ngươi cứ ăn đi. Nếu hết... ta nấu thêm cháo.”

Phụ thân liếc ta một cái.

“Gạo nhà ta không mọc trên cây.”

Ta chống cằm, cười híp mắt.

“Thuốc nhà ta cũng đâu có tự phơi.”

Phụ thân hừ khẽ một tiếng, không nói thêm gì nữa, chỉ lẳng lặng xới thêm một bát cơm đặt vào giữa bàn.

Ông đưa mắt nhìn những nia dược liệu đang phơi kín ngoài sân, ánh nắng giữa trưa phủ lên từng lớp lá thuốc đã ngả màu vàng nhạt, cuối cùng chỉ khẽ lắc đầu, như muốn nói điều gì đó rồi lại thôi, chẳng buồn nhắc thêm một câu.

Hắn ăn hết hai bát cơm, nửa đĩa rau và một bát canh, mãi đến khi đặt đôi đũa xuống, ánh mắt vẫn vô thức dừng lại trên nồi cơm đặt giữa bàn thêm một thoáng rồi mới chậm rãi thu về.

Ta nhìn theo ánh mắt ấy, khóe môi bất giác cong lên.

“No rồi?”

“Rồi.”

Ta khẽ hất cằm về phía nồi cơm, nén cười hỏi tiếp:

“Vậy sao mắt ngươi vẫn cứ nhìn sang đó?”

Hắn hơi khựng lại, dường như cũng vừa nhận ra ánh mắt mình đã vô tình để lộ điều gì đó, im lặng hồi lâu mà không tìm được lời nào để đáp.

“Ăn thêm đi.”

Ta mỉm cười, đưa nửa chiếc bánh còn lại sang cho hắn.

Hắn vừa đưa tay nhận lấy, ta cũng tiện tay quay người rót thêm một chén nước đặt lên bàn.

Chỉ là một cái chớp mắt ngắn ngủi.

Đến khi quay đầu lại, chiếc ghế trước mặt đã trống không.

Giữa gian bếp chỉ còn một con hạc trắng đang đứng lặng trên nền đất, chiếc mỏ đã kịp ngậm lấy nửa chiếc bánh ta vừa đưa sang, đôi mắt đen láy mở to nhìn ta.

Đúng lúc ấy, từ ngoài ruộng bỗng lần lượt vọng về mười hai tiếng hạc thanh thoát, tiếng trước nối tiếng sau, xuyên qua cánh đồng hoa và theo gió trưa truyền đến, nghe vừa quen thuộc lại vừa như mang theo một lời gọi mà ta không hiểu nổi.

Con hạc trắng trước mặt khẽ khựng lại, chậm rãi quay đầu nhìn về phía cánh cửa đang mở.

Ngoài bờ ruộng, mười hai bóng hạc trắng đã lặng lẽ đứng thành một hàng từ lúc nào, không con nào cất tiếng gọi thêm nữa, chỉ đồng loạt hướng ánh mắt về phía nó, giống như đang kiên nhẫn chờ đợi một điều gì đó.

Khoảng cách giữa chúng vốn chẳng xa, chỉ cách nhau một cánh cửa, vậy mà chẳng hiểu sao, khi con hạc trắng quay đầu nhìn về phía mười hai bóng hạc ngoài bờ ruộng, ta lại có cảm giác giữa chúng dường như đã bị ngăn cách bởi một quãng thời gian rất dài, dài đến mức ngay cả tiếng hạc gọi nhau cũng không thể lấp đầy.

Giữa gian bếp con hạc trắng đang đứng lặng, mỏ ngậm nửa chiếc bánh, cứ thế ngơ ngác đứng nguyên tại chỗ.

Phụ thân đang bưng bát nước lên định uống, bàn tay vừa đưa đến giữa chừng đã khựng lại, ánh mắt chậm rãi dừng trên con hạc trắng đứng giữa gian bếp.

Con hạc ngậm nguyên nửa chiếc bánh trong mỏ, khẽ nghiêng đầu nhìn lại phụ thân.

Một lát sau, phụ thân đặt chén xuống, chậm rãi nói:

“Ăn xong thì tránh khỏi nia thuốc.”

Con hạc cúi đầu nhìn chân mình.

Một chân của nó quả thật đang giẫm lên góc chiếc nia phơi rễ cam thảo.

Nó lặng lẽ bước sang bên.

Phụ thân cúi xuống nhặt mấy lát thuốc vừa rơi, vẻ mặt bình thản đến mức dường như chuyện một nam nhân biến thành hạc ngay trước mặt chỉ đáng để nhắc nhở đừng làm bẩn dược liệu.

Chính câu nói của phụ thân mới kéo thần trí ta trở về.

Ta nhìn con hạc trắng vẫn đứng giữa gian bếp, chiếc mỏ còn ngậm nguyên nửa chiếc bánh, trong đầu chỉ chợt hiện lên một ý nghĩ.

Đến cả lúc này... bản tính tham ăn vẫn chẳng đổi.

Con hạc quay đầu nhìn ta. Nửa chiếc bánh vẫn còn ngậm nguyên trong mỏ.

Trong đôi mắt đen láy đã không còn vẻ ngơ ngác ban đầu, chỉ còn lại một chút bối rối xen lẫn tủi thân, như thể cuối cùng cũng nhận ra mình lại biến thành hạc mất rồi.

Từ ngày ấy, thời gian hắn giữ được hình người quả nhiên dài thêm từng chút một.

Có hôm hắn còn ngồi cùng chúng ta ăn xong bữa trưa, giúp phụ thân chuyển hết những sọt rễ thuốc vào gian kho rồi mới hóa thành hạc; có hôm lại theo phụ thân ra ruộng từ sáng, xới đất quanh gốc, nạo lại đoạn mương bị đất lấp, mãi đến khi bóng cây táo đã nghiêng quá nửa sân mới tan thành một vệt sáng trắng.

Đến một buổi chiều khác, khi ta vừa mang những nia thuốc cuối cùng vào dưới mái hiên thì trời bất ngờ chuyển mưa, mây đen từ phía đầu núi ùn ùn kéo tới nhanh đến mức cả cánh đồng vừa rồi còn ngập nắng đã thoáng chốc tối sầm, vậy mà hắn chẳng cần ai nhắc, đã tự mình chạy qua chạy lại, lần lượt bê từng nia dược liệu vào trong.

Phụ thân đứng dưới mái bếp lặng lẽ nhìn hắn chuyển hết nia này đến nia khác, đợi đến khi hạt mưa đầu tiên lộp bộp rơi xuống sân mới chậm rãi lên tiếng:

"Còn hai sọt ngoài kho."

Hắn không ngoái đầu, chỉ đáp gọn:

"Ta biết."

Dứt lời liền lập tức quay người chạy ngược ra ngoài.

Ta đứng dưới mái hiên nhìn hai người, bỗng cảm thấy phụ thân sai hắn làm việc ngày càng tự nhiên, mà hắn nhận việc cũng ngày càng thuận miệng.

Chỉ còn mình ta vẫn thỉnh thoảng giật mình vì trong nhà bỗng có thêm một người.

Những ngày tiếp theo, hắn giúp được việc gì thì làm việc ấy.

Sáng theo phụ thân ra ruộng nhổ cỏ, xới gốc, kiểm tra những luống cây vừa lên mầm.

Trưa đem nước và cơm ra đồng, giúp gom những bó dược liệu đã phơi đủ nắng.

Chiều chuyển sọt hoa vào chỗ râm, giũ đất khỏi rễ thuốc, nhóm bếp hoặc chẻ thêm ít củi.

Có hôm chẳng có việc gì gấp, hắn ngồi dưới mái hiên cùng chúng ta phân dược liệu, nhặt từng nhánh rễ lẫn cỏ, động tác chậm hơn ta nhưng cẩn thận hơn phụ thân.

Hắn cũng không phải việc gì cũng biết.

Lần đầu cầm cuốc nhổ cỏ, hắn suýt nhổ luôn mấy cây thuốc non, khiến phụ thân đang đứng cách đó hai bước phải lập tức lên tiếng:

"Cỏ ở bên trái."

Hắn cúi nhìn cây trong tay mình, rồi lại chậm rãi nhìn sang bên trái, sau một lúc mới nghiêm túc đáp:

"Rất giống nhau."

Phụ thân bật cười, lắc đầu.

"Cho nên người không biết thì phải nhìn cho kỹ."

Ta ngồi bên cạnh nghe vậy cũng không nhịn được cười.

"Ngươi cầm cuốc như cầm đao, cây thuốc nhà ta nhìn thấy cũng sợ."

Hắn quay đầu nhìn ta, ánh mắt thoáng khựng lại.

"Ta từng cầm đao?"

Nụ cười trên môi ta cũng theo đó mà dừng lại.

Hắn cúi xuống nhìn hai bàn tay mình, như thể động tác vừa rồi vô tình chạm đến một góc ký ức đã ngủ quên rất lâu, đến mức phải im lặng hồi lâu mới chậm rãi lắc đầu.

"Không phải đao."

Ta nhẹ giọng hỏi:

"Vậy là gì?"

Hắn khẽ siết những ngón tay, dường như đang nhớ lại cảm giác quen thuộc nào đó.

"Kiếm."

"Ngươi nhớ rồi?"

Hắn lắc đầu.

"Chỉ nhớ cách cầm."

Phụ thân không hỏi thêm.

Ông chỉ lặng lẽ đổi cho hắn một chiếc cuốc nhỏ hơn, đặt vào tay hắn rồi ôn tồn dặn:

"Biết cầm kiếm không có nghĩa là biết trồng thuốc. Cầm cái này nhẹ tay một chút."

Hắn cúi đầu nhận lấy.

"Vâng."

Lần đầu cho gà ăn, hắn cũng khiến cả đàn gà chạy tán loạn.

Hắn bưng bát thóc đứng giữa sân, vẻ mặt nghiêm túc đến mức trông chẳng giống người đi cho gà ăn, mà giống như đang chuẩn bị gọi cả đàn lại để tra hỏi, khiến ta dựa vào gốc táo cười đến mức gần như không đứng vững.

Hắn quay sang nhìn ta, khẽ nhíu mày.

"Chúng sợ ta."

Ta lắc đầu.

"Không."

"Vậy vì sao chạy?"

Ta cố nén cười.

"Ngươi nhìn chúng như nhìn phạm nhân, chúng không chạy mới lạ."

Hắn cúi xuống nhìn bát thóc trong tay, suy nghĩ một lúc rồi nghiêm túc hỏi:

"Vậy phải làm thế nào?"

Ta chỉ khoảng đất trước mặt.

"Ngồi thấp xuống."

Hắn lập tức ngồi xuống.

"Đừng nhìn chằm chằm."

Hắn lại quay mặt sang một bên.

"Rắc thóc rồi tránh xa một chút."

Hắn vẫn ngoan ngoãn làm theo từng lời ta nói.

Phải một lúc sau, thấy hắn thật sự không còn nhìn mình nữa, cả đàn gà mới rón rén bước lại, vừa cảnh giác vừa tranh nhau mổ những hạt thóc vương trên mặt đất.

Ta cứ ngỡ hắn sẽ thấy chuyện ấy phiền phức, nào ngờ sáng hôm sau, vừa mở cửa bước ra sân, ta đã thấy hắn ngồi xổm ở đó từ lúc nào, cẩn thận rắc thóc thành từng nắm nhỏ. Mấy con gà con chạy lon ton quanh chân hắn, tranh nhau mổ thóc, còn hắn vẫn cúi nhìn chúng, vẻ mặt nghiêm túc như cũ, chỉ có ánh mắt đã dịu đi hơn hôm trước rất nhiều.

Ta đứng dưới mái hiên nhìn một lúc rồi mới lên tiếng:

"Ngươi thích cho gà ăn?"

Hắn không ngẩng đầu.

"Ta chỉ làm việc."

Ta bật cười.

"Việc này đâu có ai sai ngươi."

Hắn rắc thêm một nắm thóc, giọng vẫn bình thản:

"Ở nhờ thì làm chút chuyện cũng là lẽ thường."

Ta càng nghe càng thấy quen.

"Lời này nghe quen quá."

Hắn nghiêng đầu liếc ta một cái.

"Phụ thân ngươi nói."

"Ngươi nghe một lần đã nhớ?"

Khóe môi hắn khẽ động.

"Những câu có lợi cho mình, ta thường nhớ rất lâu."

Ta chống tay lên cột hiên, cười hỏi:

"Làm việc có lợi cho ngươi ở đâu?"

Hắn cúi nhìn đàn gà đang ríu rít mổ thóc bên chân, im lặng thật lâu, đến khi bầy gà đã ăn gần hết nắm thóc cuối cùng mới khẽ đáp:

"Ít nhất... lúc ăn cơm không thấy mình vô dụng."

Nụ cười trên môi ta cũng theo đó mà lặng đi.

Gió buổi sớm lướt qua sân, cành táo rung lên, mấy giọt sương còn đọng trên lá rơi xuống vai hắn.

Hắn đưa tay phủi đi, sau đó tiếp tục cho gà ăn.

Có lẽ hắn thật sự vui.

Không phải niềm vui lớn lao đến mức phải nói thành lời, mà là thứ vui rất nhỏ, ẩn trong những bữa cơm có thêm một chiếc bát, trong tiếng phụ thân thuận miệng gọi hắn mang giúp một sọt thuốc, trong việc sáng ra đã biết hôm nay nên tưới luống nào trước, chiều xuống phải thu những nia nào vào trước khi sương rơi.

Người ta thường chỉ nhận ra mình đã quen với một nơi khi không còn phải hỏi chiếc chum nước ở đâu, cái cuốc đặt chỗ nào, hoặc bữa tối có cần nấu thêm cơm hay không.

Hắn dần dần cũng không hỏi nữa.

Có hôm giữa chiều hắn đột ngột biến lại khi đang đi cạnh ta ngoài ruộng, quần áo và miếng ngọc cùng tan vào ánh sáng, chỉ để lại một con hạc trắng đứng giữa luống cây, nghiêng đầu nhìn chiếc giỏ thuốc mà nó không còn cách nào xách nổi.

Ta phải ôm giỏ một tay, tay kia đẩy nó tránh khỏi cây non.

“Lúc là người thì giúp được việc, lúc thành hạc chỉ biết đứng chắn đường.”

Nó nhìn ta.

Ta lập tức nhận ra câu ấy nghe rất quen.

“Không phải ta nói. Phụ thân nói.”

Nó vẫn nhìn.

“Ngươi nhìn nữa cũng vô ích. Hạc không biết xách giỏ.”

Nó giương cánh.

Ta vội ôm chặt chiếc giỏ.

“Cấm đánh ta.”

Nó thu cánh lại.

Nhưng lúc quay về, nó vẫn lặng lẽ đi bên cạnh ta, thỉnh thoảng dùng mỏ nhấc những nhánh cây vướng trên đường sang một bên.

Ta đem suy nghĩ của mình nói với hắn vào một đêm hai người đang ngồi dưới mái hiên phân loại dược liệu.

Ánh đèn dầu lay nhẹ.

Hắn cầm một nhánh rễ khô trong tay, đầu ngón tay bỗng khựng lại.

"Ngươi nghĩ... thời gian ta giữ được hình người đang dài hơn?"

Ta khẽ gật đầu.

"Mấy hôm trước ngươi chỉ giữ được nửa ngày, còn hôm nay đã gần trọn một ngày rồi."

Hắn cúi nhìn bó dược liệu trong tay, ánh mắt lặng đi.

"Có lẽ... chuyện gì đó đang thay đổi."

Ta chậm rãi tiếp lời:

"Ta cũng nghĩ vậy."

"Nhưng cũng có thể chỉ là tạm thời."

Hắn khẽ đáp.

Ta im lặng một lúc rồi mới nói:

"Nếu thật sự đang thay đổi..."

"...thì nguyên nhân hẳn không nằm ở đây."

Dưới mái hiên chỉ còn tiếng gió lùa qua tán táo và tiếng lá khô khẽ cọ vào nhau.

Rất lâu sau, hắn mới cất tiếng:

"Ta vẫn không nhớ vì sao mình biến thành hạc."

Ta ngẩng đầu nhìn hắn.

"Cho nên mới phải đi tìm."

"Tìm gì?"

"Cánh cổng đá."

Gió đêm khẽ lướt qua, bóng lá chập chờn trên gương mặt hắn.

Ta nhìn khoảng sân tối trước mặt, chậm rãi nói:

"Nếu ký ức của ngươi thật sự đang dần trở lại..."

"...thì nơi ấy có lẽ là nơi duy nhất còn sót lại đáp án."

Hắn trầm mặc rất lâu.

"Ngọn núi ấy rất sâu."

"Ta biết."

"Có thể rất nguy hiểm."

"Ta cũng biết."

Hắn nhìn ta.

"Ngươi vẫn muốn đi?"

Ta cúi đầu buộc lại bó thuốc trong tay, giọng vẫn bình thản như đang nói một chuyện vốn dĩ phải như vậy.

"Không phải ta muốn đi."

Hắn hơi khựng lại.

"Vậy là ai?"

Ta ngẩng đầu nhìn hắn.

"Ngươi muốn đi."

"Ta chỉ miễn cưỡng dẫn đường."

Hắn nhìn ta rất lâu, rồi khẽ nói:

"Ta không nhớ đường."

Ta bật cười.

"Vậy càng tốt."

Hắn khó hiểu.

"Tốt ở đâu?"

Ta nghiêng đầu nhìn hắn.

"Nếu lạc..."

Ta cố ý ngừng lại một chút rồi mới mỉm cười nói hết câu.

"...hai người lạc vẫn hơn một người."

Hắn lặng người giây lát.

Rồi nơi khóe môi vốn luôn lạnh nhạt ấy khẽ hiện lên một nụ cười rất mỏng, rất nhẹ, nhưng cũng là lần đầu tiên kể từ ngày ta gặp hắn, nụ cười ấy không còn mang theo vẻ xa cách hay mờ mịt, mà thật sự thả lỏng như thể trong lòng vừa buông xuống được một điều gì đó.

Nhìn hắn cười, ta cũng bất giác mỉm cười theo.

Hôm sau, ta đem chuyện muốn lên núi nói với phụ thân.

Ông không trả lời ngay, chỉ lặng lẽ đặt bó dược liệu trong tay xuống, ngồi im rất lâu dưới mái hiên, ánh mắt hướng về cánh đồng hoa đang lay động trong gió xuân.

Mãi một lúc sau, ông mới khẽ gọi:

"Thanh Ninh."

Ta đáp:

"Dạ."

Ông nhìn ta, ánh mắt vẫn dịu dàng như từ thuở ta còn bé.

"Có lẽ... con cũng đến tuổi nên biết mọi chuyện rồi."

Ta hơi sững người.

Phụ thân chậm rãi nói:

"Cha chưa từng mong con bước vào ngọn núi ấy."

"Cha chỉ mong con bình bình an an sống hết một đời, trồng thuốc, chữa bệnh, rồi già đi trên mảnh đất này."

Ông dừng lại, khẽ thở ra một hơi.

"Nhưng nếu có những chuyện vốn dĩ tránh không được..."

"...thì cha cũng không thể giữ con mãi ở sau lưng mình."

Ta cúi đầu.

"Cha..."

Ông khẽ lắc đầu.

"Nhà họ Tạ... đã trồng hoa, trồng thuốc không biết bao nhiêu đời."

"Tổ tiên chỉ truyền lại vài câu."

Ông nhìn về phía cánh đồng.

Mười hai con bạch hạc vẫn đứng lặng giữa biển hoa, mặc gió xuân thổi qua làm từng chiếc lông trắng khẽ lay động.

Phụ thân nhìn về phía cánh đồng hoa, giọng nói cũng chậm dần theo làn gió xuân lướt qua những cánh hạc trắng.

"… nếu một ngày con hạc thứ mười ba xuất hiện thì ắt sẽ có chuyện lạ; nếu có người tìm đến, giúp được thì giúp, còn vì sao phải làm như vậy... thì đừng hỏi."

Ta khẽ siết đầu ngón tay.

"Cha cũng không biết sao?"

Ông cười nhạt.

"Không biết."

"Vì sao phải giữ cánh đồng này."

"Vì sao phải trồng hoa."

"Vì sao năm nào bầy hạc cũng trở về."

"Cha đều không biết."

"Người trước không nói."

"Người sau chỉ biết làm theo."

Ông nhìn mười hai con hạc đang lặng lẽ đứng giữa biển hoa.

"Đã nhiều lần cha nghĩ..."

"...có lẽ đời này qua đời khác đều là một đàn hạc."

"Nhưng cũng có lúc lại thấy..."

"...chúng dường như chưa từng già đi."

Giọng ông rất khẽ.

"Đúng hay sai..."

"...đành để thế hệ các con tự đi tìm câu trả lời."

Ông quay sang nhìn ta và hắn.

"Cha không biết cánh cổng đá ở đâu."

"Cũng không giúp giải được chuyện của hắn."

"Điều duy nhất cha làm được..."

"...là để hai đứa chuẩn bị đầy đủ rồi mới lên đường."

Nói rồi, ông chống tay đứng dậy.

"Chiều nay cha sẽ phơi thêm ít lương khô."

"Thuốc cầm máu, thuốc giải độc, thuốc chống côn trùng cũng phải mang."

"Dây thừng."

"Đá đánh lửa."

"Cái gì cần mang thì đều mang."

Hắn khẽ cúi người.

"Đa tạ bá phụ."

Phụ thân nhìn hắn, ánh mắt cuối cùng cũng hiện lên một tia ý cười.

"Ăn cơm nhà ta lâu như vậy..."

"...còn giúp ta chăm gà, gánh nước, phơi thuốc."

"Nói cảm ơn với người trong nhà làm gì."

Hắn khẽ ngẩn người.

Một lát sau mới nhẹ giọng đáp:

"Vâng."

Sáng hôm sau.

Sương vẫn còn phủ trắng bờ cỏ.

Phụ thân tự tay buộc túi lương khô lên vai hắn, lại cẩn thận nhét từng bọc thuốc vào giỏ của ta, kiểm tra hết một lượt rồi mới chậm rãi dặn:

"Nếu trời tối..."

"...thì quay về."

"Gặp sương dày..."

"...cũng quay về."

Ông ngẩng đầu nhìn hai chúng ta.

"Nhớ kỹ."

"Đường trong núi khó đi."

"Thú dữ cũng nhiều."

"Nếu đã quyết định lên đường..."

"...thì hai đứa phải cùng nhau trở về."

Ta ngoan ngoãn gật đầu.

Vừa bước ra khỏi cổng, ta vô thức ngoái đầu nhìn lại thì thấy mười hai con bạch hạc đã đứng trên bờ ruộng từ lúc nào, không cất tiếng, cũng chẳng bay theo, chỉ lặng lẽ nhìn về phía chúng ta.

Gió xuân thổi qua cánh đồng hoa, từng cánh hoa khẽ lay theo làn gió, còn mười hai bóng trắng vẫn đứng yên như chưa từng dịch chuyển, khiến ta bất giác có một ảo giác rất lạ, rằng chúng không phải đang tiễn người rời đi, mà đang lặng lẽ chờ một người trở về.

Ta chỉ cười, rồi cùng hắn bước xuống con đường nhỏ dẫn về phía chân núi.

Đó là lần đầu tiên hắn rời khỏi sân nhà ta giữa ban ngày với dáng vẻ của một con người. Trên người vẫn là bộ áo vải cũ của phụ thân, tay áo ngắn hơn một đoạn, chiếc thắt lưng cũng không thật vừa vặn, vậy mà khi khoác lên người hắn lại chẳng hề có vẻ luộm thuộm; lưng vẫn thẳng, bước chân vẫn vững vàng, để đến cả bộ quần áo mộc mạc của người trong thôn cũng khó lòng che khuất được khí chất vốn có nơi hắn.

Suốt dọc đường qua đầu làng, không ít người dừng tay ngoái nhìn, ngay cả bà lão bán bánh bên vệ đường cũng chống gối đứng dậy, cười gọi ta:

“Thanh Ninh, đây là ai?”

“Người quen của phụ thân.”

Bà lão nhìn hắn từ đầu đến chân một lượt, nụ cười trên gương mặt càng lúc càng hiền hòa.

"Người quen từ đâu đến vậy?"

Ta mỉm cười.

"Xa lắm."

Bà lão lại hỏi:

"Đã hứa hôn chưa?"

Ta giật mình, suýt nữa vấp ngay vào hòn đá bên đường.

"Chưa."

Vừa dứt lời, bà đã cười tủm tỉm, thuận tay nhét thêm vào tay ta một chiếc bánh nóng hổi.

"Vậy thì đi chậm thôi."

Ta ôm chiếc bánh, còn chưa kịp hiểu câu nói ấy có ý gì thì hắn đã cúi mắt nhìn xuống.

"Bà ấy biết đường đến cánh cổng đá?"

Ta quay sang nhìn hắn, không nhịn được cười.

"Không."

Hắn khẽ nhíu mày.

"Vậy vì sao lại cho thêm một chiếc bánh?"

Ta đưa chiếc bánh lên ngửi thử rồi đáp rất tự nhiên:

"Có lẽ... thấy ngươi đáng thương."

Hắn cúi đầu nhìn lại chính mình.

"Ta trông rất đáng thương?"

Ta liếc sang hắn, khóe môi cong lên.

"Lúc nhìn đồ ăn thì có."

Hắn im lặng.

Đi thêm chừng mười bước, hắn bỗng chậm giọng hỏi:

"Còn chiếc kia không?"

Ta quay đầu nhìn hắn, khóe môi khẽ cong lên.

"Ngươi vừa nói mình không đói."

Hắn bình thản đáp:

"Ta chỉ hỏi."

Ta nhìn vẻ mặt nghiêm túc ấy, cuối cùng vẫn không nhịn được cười.

"Ngươi nói câu ấy mà bụng ngươi chịu nghe sao?"

Hắn im lặng, cũng không biết là thật sự không biết trả lời thế nào, hay đã bị ta nói trúng.

Ta đưa chiếc bánh sang cho hắn.

Con đường lên núi ban đầu vẫn quen thuộc, chạy giữa những ruộng thuốc và vườn cây. Càng đi sâu, nhà cửa càng thưa, chỉ còn những mái tranh thấp nép dưới chân núi.

Chúng ta hỏi rất nhiều người về cánh cổng đá.

Phần lớn đều lắc đầu.

Có người nói sâu trong núi từng có một khu phế tích đã bị rừng nuốt mất từ lâu.

Có người bảo đó chỉ là chuyện người lớn bịa ra để dọa trẻ con đừng chạy vào núi.

Lại có người vừa nghe nhắc đến sương trắng đã lập tức đổi sắc mặt, khép cửa lại, nhất quyết không chịu nói thêm một lời.

Mãi đến gần trưa, tại một thôn nhỏ dưới chân núi, chúng ta mới gặp một ông lão đang ngồi đan giỏ tre trước hiên.

Ông nghe xong liền dừng tay.

“Cánh cổng đá?”

Ta gật đầu.

“Giữa rừng sâu, quanh năm có sương.”

Ông lão nhìn hai người chúng ta.

“Các ngươi tìm nơi ấy làm gì?”

“Người nhà ta từng đi lạc vào đó.”

Ta đáp.

“Muốn tìm lại đường cũ.”

Ông lão cúi đầu đan nốt một nan tre, hồi lâu mới nói:

“Không có đường cũ.”

“Vì sao?”

“Đường vào vùng ấy không cố định.”

Ta và hắn nhìn nhau.

Ông lão tiếp tục:

“Có ngày đi ba bước là tới. Có ngày đi ba tháng vẫn quay về đúng chỗ cũ. Người trong vùng gọi đó là rừng quên lối.”

“Ông từng vào chưa?”

“Hồi trẻ từng vào tìm thuốc.”

“Có thấy cánh cổng đá không?”

“Không.”

“Vậy thấy gì?”

“Sương.”

Ta hỏi tiếp:

“Còn hạc?”

Bàn tay ông lão chợt khựng lại.

“Hạc nào?”

“Mười hai con hạc trắng.”

Ông ngẩng đầu nhìn ta.

“Nhà ngươi họ Tạ?”

Ta khựng lại.

“Vâng.”

Ông đặt chiếc giỏ xuống.

“Vậy ngươi hẳn biết chuyện ấy rõ hơn ta.”

“Biết chuyện gì?”

Ông nhìn về phía dãy núi xanh mờ sau lưng thôn.

“Từ đời cụ tổ ta, người ta đã thấy mười hai con hạc ấy bay về ruộng hoa nhà họ Tạ.”

Ta im lặng.

Hắn đứng bên cạnh cũng bất động.

Ông lão chậm rãi nói tiếp:

“Thuở ấy, dưới chân núi còn có một tòa thành nhỏ. Thành mất từ lâu, người trong thành cũng chẳng còn ai.”

“Chỉ còn chuyện về mười hai con hạc vẫn được người đời truyền miệng.”

Ta hỏi:

“Ba trăm năm rồi... vẫn là chúng sao?”

Ông lão bật cười.

“Ai mà biết.”

Ông cúi xuống cầm lại chiếc giỏ tre.

“Người trong vùng cãi nhau chuyện ấy mấy đời rồi.”

“Có người bảo năm nào lứa trước chết thì lứa sau lại thay.”

“Cũng có người nói ba trăm năm nay vẫn chỉ có đúng mười hai con ấy, chưa từng già đi.”

Ông khẽ lắc đầu.

“Ta chưa từng thấy chúng già.”

“Cũng chưa từng thấy xác một con hạc nào.”

“Thật giả thế nào, chẳng ai nói được.”

Ông ngẩng đầu nhìn về phía cánh đồng xa.

“Còn ta thì chỉ biết... năm nào ngẩng đầu lên cũng vẫn thấy mười hai bóng trắng ấy bay về.”

Gió dưới mái hiên khẽ lay.

Một con bướm vàng bay ngang, đậu lên chiếc giỏ tre rồi lại chậm rãi bay đi.

Ông lão bỗng hạ thấp giọng.

“Nhưng có một chuyện... cả vùng đều biết.”

Ta vô thức nín thở.

“Suốt bao nhiêu đời.”

“Vẫn chỉ có đúng mười hai con.”

Ông quay sang nhìn hắn.

“Cho đến năm nay.”

Cả khoảng sân bỗng im lặng.

Ta hỏi khẽ:

“Ông biết năm nay có thêm một con?”

“Cả vùng đều biết.”

Ông cười nhạt.

“Mười hai con bay thành hàng suốt bao nhiêu đời, bỗng dưng xuất hiện con thứ mười ba.”

“Ai nhìn mà không nhận ra?”

Ta vô thức quay sang hắn.

Sắc mặt hắn vẫn bình tĩnh.

Chỉ có bàn tay đặt bên người đã siết chặt từ lúc nào.

Ông lão chỉ cho chúng ta một lối mòn phía bắc, dặn đi đến khi gặp ba cây tùng mọc sát nhau thì rẽ về hướng khe nước cạn.

“Nếu gặp sương, phải cẩn thận.”

“Vì sao?”

“Nghe tiếng chim.”

“Nếu chim ngừng hót?”

Ông nhìn về phía khu rừng sâu, ánh mắt chợt trở nên xa xăm.

“Thì rừng đã bắt đầu nghe các ngươi.”

Rời khỏi thôn, chúng ta đi rất lâu mà không ai nói gì.

Gió bỗng ngừng lại.

“Ba trăm năm.”

Ta cũng dừng theo.

“Mười hai con hạc không già, không chết.”

“Ừ.”

“Còn ta xuất hiện sau khi bước vào rừng.”

Ta nhìn hắn.

Gió từ khe núi thổi lên, lay động tóc hắn.

Trong đôi mắt ấy không còn vẻ mơ hồ của người mất trí, mà là sự tỉnh táo lạnh lẽo của kẻ đang tự ghép những mảnh vụn lại với nhau.

“Ta là con thứ mười ba.”

Ta biết đây là điều cả hai đều đã nghĩ đến.

Nhưng khi hắn tự nói ra, lòng ta vẫn chợt nặng xuống.

“Có lẽ.”

“Không phải có lẽ.”

Hắn nhìn về phía rừng sâu.

“Ta nghe tiếng hạc, bước qua cánh cổng đá. Sau đó, ta tỉnh lại trong hình dạng ấy.”

“Nhưng ngươi khác chúng.”

“Mười hai con kia chỉ là hạc.”

“Còn ngươi có thể hóa thành người.”

Hắn cúi mắt.

“Ta không biết khác nhau có phải chuyện tốt hay không.”

Ta muốn nói điều gì đó, nhưng cuối cùng chỉ lấy chiếc bánh trong túi đưa cho hắn.

Hắn nhìn chiếc bánh.

“Vì sao?”

“Ăn đi.”

“Ta đang nói chuyện nghiêm túc.”

“Người đói thường nghĩ mọi chuyện xấu hơn thực tế.”

Hắn nhận lấy.

“Ngươi luôn dùng thức ăn để giải quyết mọi chuyện?”

“Không.”

“Vậy còn cách nào?”

“Ngủ một giấc.”

Hắn khẽ cười.

“Quả nhiên rất có đạo lý.”

Chúng ta tiếp tục đi.

Đến đầu giờ chiều, lối mòn bắt đầu mất dần dưới cỏ dại.

Ba cây tùng mọc sát nhau hiện ra bên sườn núi, thân cây quấn lấy nhau như ba người già đang tựa lưng ngủ.

Theo lời ông lão, chúng ta rẽ về phía khe nước cạn.

Càng đi sâu, rừng càng yên.

Ban đầu vẫn còn tiếng chim gọi nhau trên cao, tiếng sóc nhảy qua cành, tiếng côn trùng trong cỏ.

Sau đó, những âm thanh ấy thưa dần.

Một con chim nhỏ đậu trên nhánh cây trước mặt chúng ta.

Nó nhìn ta.

Ta nhìn nó.

Nó bỗng bay về phía trước một đoạn, rồi dừng trên cành khác.

Ta bước theo.

Hắn hỏi:

“Ngươi biết nó?”

“Không.”

“Vậy vì sao đi theo?”

“Có thể nó đang chỉ đường.”

“Cũng có thể nó đang tìm sâu.”

“Trong rừng này sâu ở đâu chẳng có, hà tất phải đợi chúng ta.”

Con chim lại bay tiếp.

Chúng ta theo nó qua một gốc cây đổ, vòng khỏi một vách đá phủ rêu, đến bên dòng nước chỉ còn vài vũng nhỏ phản chiếu trời xanh.

Tại đó, nó đột nhiên biến mất.

Không phải bay đi.

Chỉ vừa chớp mắt, cành cây đã trống không.

Ta dừng lại.

“Ngươi có thấy không?”

“Có.”

“Có phải ta hoa mắt?”

“Không.”

“Vậy nó đi đâu?”

“Không biết.”

Ta quay đầu nhìn khu rừng phía sau.

Những thân cây đứng im, nhưng cảm giác bị nhìn lại càng rõ.

Hắn bước lên trước ta nửa bước.

“Đi sát ta.”

Ta không đáp, chỉ lặng lẽ bước gần hơn.

Khe nước dẫn chúng ta đến một vùng trũng giữa núi.

Nơi ấy không có cây lớn, chỉ mọc đầy cỏ bạc đầu. Mỗi khi gió đi qua, cả vùng cỏ cùng nghiêng về một hướng, trông như vô số người đang cúi đầu chào khách lạ.

Ở cuối vùng cỏ là một tảng đá lớn bị dây leo phủ kín.

Hắn vừa nhìn thấy đã khựng lại.

“Ta từng đến đây.”

“Ngươi chắc?”

“Không.”

“Không chắc sao còn nói?”

“Cảm giác.”

Ta bước đến, đưa tay kéo dây leo sang bên.

Phía sau không phải đá liền, mà là một trụ đá cao, trên mặt có những đường chạm đã mòn gần hết.

Hắn cũng tiến lại.

Hai người cùng gạt dây leo xuống.

Một trụ đá thứ hai hiện ra phía đối diện.

Giữa hai trụ là khoảng trống vừa đủ cho một người cưỡi ngựa đi qua.

Trên cao vẫn còn một phiến đá ngang đã gãy mất một góc, rêu xanh phủ kín, rễ cây xuyên qua kẽ nứt.

Cánh cổng đá.

Hắn đứng bất động.

Mặt trời vẫn còn cao, nhưng sương đã từ đâu lan đến.

Ban đầu chỉ là một dải mỏng dưới chân, sau đó chậm rãi dâng lên, bò quanh những tảng đá như một sinh vật đang thở.

Ta khẽ gọi:

“Ngươi nhớ gì không?”

Hắn đưa tay chạm lên trụ đá.

“Tiếng vó ngựa.”

Một khoảng im lặng.

“Sương.”

Hơi thở hắn nặng dần.

“Ta đã đi qua đây.”

“Sau đó?”

“Không nhớ.”

“Đừng cố.”

Hắn nhắm mắt, bàn tay vẫn đặt trên mặt đá lạnh.

Ta nhìn hắn, bỗng nhớ đến bức tường cung rất cao, nhớ miếng ngọc bội, nhớ những người từng quỳ trước mặt hắn.

Nếu thật sự nhớ lại tất cả, hắn sẽ biết mình là ai.

Sẽ biết nhà ở đâu.

Sẽ biết có người đang đợi.

Mà một người như hắn, dù là quan lớn hay thân phận nào khác, cũng không thể ở mãi trong căn nhà nhỏ có chum gạo thường thấy đáy, ruộng thuốc quanh năm đầy cỏ và một ông lão sáng nào cũng thuận miệng giao cho hắn một đống việc.

Ta đột nhiên thấy cánh cổng trước mặt đáng ghét.

Nó giống như một bàn tay đang chậm rãi kéo hắn khỏi nơi ta.

Hắn mở mắt.

“Thanh Ninh?”

Ta giật mình.

“Gì?”

“Ngươi đang nghĩ gì?”

“Không có gì.”

“Ngươi nhìn cánh cổng như muốn đập nó.”

“Ta chỉ đang nghĩ đá này có bán được tiền không.”

Hắn im lặng.

Ta biết hắn không tin.

Hai người bước qua cổng đá.

Ngay khi chân ta chạm xuống phía bên kia, tiếng chim rừng hoàn toàn biến mất.

Không chỉ chim.

Gió cũng tắt.

Lá không lay.

Cỏ không nghiêng.

Cả khu rừng giống như vừa nín thở.

Ta nhớ lời ông lão.

Khi chim ngừng hót, nghĩa là rừng đã bắt đầu nghe các ngươi.

Ta vô thức nắm lấy tay áo hắn.

Hắn cúi nhìn tay ta, nhưng không nói gì, chỉ chậm bước để ta đi sát hơn.

Phía sau cổng đá, con đường cũ gần như đã mất, chỉ còn một dải đất nhạt màu len giữa cây rừng.

Sương dày lên từng chút, quấn quanh mắt cá chân rồi dâng đến đầu gối.

Chúng ta đi không biết bao lâu.

Trong rừng không nhìn thấy mặt trời, cũng không nghe được âm thanh để đoán thời gian.

Có lúc ta cảm thấy mình đã đi rất xa, quay đầu vẫn thấy cổng đá thấp thoáng sau sương.

Có lúc chỉ đi thêm vài bước, cổng đã biến mất hoàn toàn.

Đến một thân cây có vết chém cũ, hắn dừng lại.

“Dấu của ta.”

“Ngươi vừa chém?”

“Không.”

Ta nhìn kỹ.

Vết chém đã khô, rêu mọc quanh mép.

“Ngươi để lại khi vào đây?”

“Có thể.”

“Vậy chúng ta đi đúng đường.”

Hắn không đáp.

Ta nhìn sắc mặt hắn.

“Ngươi nhớ thêm gì?”

“Có người gọi ta quay lại.”

“Ai?”

“Không rõ.”

“Sau đó?”

“Con ngựa hoảng sợ.”

Hắn đưa tay ôm trán.

“Có tiếng tên bắn. Ta ngã xuống. Khi tỉnh lại…”

“Ngươi đã ở ruộng hoa.”

Hắn gật đầu.

Chúng ta nghỉ bên một tảng đá.

Ta lấy nước và bánh khô ra, chia cho hắn một nửa.

Hắn ăn rất nhanh.

Ta nhìn phần bánh trong tay mình rồi nhìn hắn.

“Ngươi còn đói?”

“Không.”

Ta bẻ thêm nửa chiếc đưa sang.

Hắn nhận lấy.

Ăn xong, hắn ngồi tựa vào đá, nhìn sương trôi giữa những thân cây.

Ta ngồi cạnh.

Khoảng cách không gần, nhưng trong khu rừng yên lặng này, hơi thở của hắn vẫn rõ ràng đến mức khiến ta thấy an tâm.

Ta chợt hỏi:

“Nếu nhớ được mình là ai… ngươi có đi không?”

Hắn không quay lại ngay.

Sương trước mặt lặng lẽ trôi qua, che mất rồi lại để lộ những thân cây đen sẫm.

Ta chờ.

Hắn vẫn im lặng.

Một lúc rất lâu sau, hắn cúi mắt nhìn miếng ngọc bội trước ngực, nhưng cuối cùng không nói gì.

Không hứa sẽ ở lại.

Cũng không nói sẽ đi.

Ta quay mặt sang phía khác.

Đã biết hắn không phải người biết nói dối để làm người khác vui, vậy mà khi nghe sự im lặng ấy, lòng ta vẫn giống như vừa bị một chiếc lá sắc cứa qua, vết thương không sâu, chẳng chảy máu, nhưng nhói lên rất lâu.

Ta đứng dậy trước.

“Đi thôi.”

Hắn cũng đứng lên.

“Thanh Ninh.”

“Gì?”

Hắn dường như muốn nói điều gì đó, nhưng cuối cùng chỉ hỏi:

“Ngươi có mệt không?”

“Không.”

Ta đáp nhanh hơn cần thiết.

“Ta chỉ muốn về trước khi phụ thân đem hết việc ngoài ruộng chất lên đầu ngươi.”

Hắn không nói nữa.

Chúng ta tiếp tục đi sâu vào rừng.

Mãi đến lúc ấy, ta mới nhận ra ánh sáng xuyên qua sương đã chuyển thành màu vàng nhạt.

Mặt trời bên ngoài khu rừng hẳn đã nghiêng rất thấp.

Ta nhìn hắn.

Hắn vẫn là người.

Từ lúc rời nhà khi sương còn đọng trên cỏ, qua buổi sáng, qua giữa trưa, đến tận lúc chiều đã sắp tắt, hắn vẫn chưa hóa thành hạc.

Ta bỗng không nhớ nổi lần gần nhất hắn giữ được hình người lâu như vậy là khi nào.

Có lẽ thời gian ấy đã tăng lên từng chút một, chậm đến mức chúng ta đều không nhận ra.

Hắn cũng cúi nhìn đôi tay mình.

Ánh mắt hai người chạm nhau.

Không ai nói gì.

Có lẽ vì niềm hy vọng ấy vẫn còn quá mong manh, chỉ cần gọi tên đã sợ nó tan mất.

Sau cánh cổng đá, cây cối ngày càng thưa.

Mặt đất dần đổi thành lớp bùn xám khô nứt, những gốc lau trắng mọc thành từng cụm, đầu bông không lay dù không khí vẫn lạnh.

Bất chợt, hắn đưa tay chặn ta lại.

“Phía trước có nước.”

Ta lắng nghe.

Không có tiếng chảy.

“Ta không nghe thấy.”

“Không phải nước chảy.”

Chúng ta bước thêm một đoạn.

Những thân cây cuối cùng tách ra.

Trước mắt hiện lên một lòng hồ rất rộng.

Nhưng hồ đã cạn.

Đáy hồ nứt thành vô số đường ngoằn ngoèo, giữa những khe nứt mọc vài nhánh cỏ trắng mảnh như tóc. Xung quanh là những cột đá thấp đã đổ nghiêng, phần lớn chìm trong sương, chỉ lộ ra đỉnh đen nhọn như xương của một con vật cổ xưa.

Ta đứng ở mép hồ, không hiểu vì sao lại thấy lạnh.

Nơi này không có gió, vậy mà lớp sương trên mặt hồ vẫn chuyển động, chậm rãi cuộn lại thành từng vòng tròn, như có thứ gì đó đang bước dưới đáy nước đã biến mất từ lâu.

Hắn nhìn chăm chú về phía giữa hồ, sắc mặt bỗng đổi khác.

"Ta nghe thấy."

Ta quay sang nhìn hắn.

"Gì?"

Hắn vẫn không rời mắt khỏi màn sương đang cuộn động.

"Tiếng hạc."

Ta bất giác nín thở.

Ban đầu, ta không nghe thấy gì, chỉ có khoảng lặng mênh mang trải khắp khu rừng, đến mức ngay cả tiếng gió cũng trở nên rất khẽ; rồi từ một nơi xa không nhìn thấy, hoặc từ tận đáy sâu của lòng đất, một tiếng hạc chậm rãi vọng lên, âm thanh trầm đục và cô độc, hoàn toàn khác với tiếng kêu của mười hai con bạch hạc trên ruộng hoa, mang theo nỗi buồn đã lắng lại qua ba trăm năm tháng, như vẫn bền bỉ cất tiếng gọi một người nào đó, nhưng suốt ngần ấy thời gian vẫn chưa từng nhận được hồi âm

Lớp sương trên mặt hồ chậm rãi tách sang hai bên như có một bàn tay vô hình vừa lướt qua, để lộ phía đối diện một bóng người mặc áo trắng đang đứng lặng giữa những cột đá đã đổ nát từ bao đời, mái tóc dài buông thẳng xuống gần chạm mặt đất, đen như màn đêm còn sót lại giữa khoảng không phủ đầy ánh sương.

Nàng không hề bước tới, vậy mà mỗi lần sương khẽ chuyển động, khoảng cách giữa nàng và chúng ta lại lặng lẽ rút ngắn thêm một chút, giống như không phải nàng đang tiến lại gần, mà chính khu rừng này đang âm thầm đưa nàng đến trước mặt chúng ta.

Đến khi gương mặt ấy hiện ra rõ ràng dưới ánh sáng mờ nhạt, ta mới nhận ra nàng còn rất trẻ, trẻ đến mức khó lòng tin được người con gái đứng trước mắt lại thuộc về nơi đã ngủ quên suốt ba trăm năm.

Nàng không nhìn ta.

Ánh mắt từ đầu đến cuối chỉ lặng lẽ dừng trên người hắn, rất lâu, lâu đến mức cả khu rừng cũng chìm vào một khoảng tĩnh lặng kỳ lạ, như thể cỏ cây, sương gió và cả thời gian đều đang cùng nàng chờ đợi khoảnh khắc ấy.

Rồi cuối cùng, nàng chỉ khẽ khép mắt một thoáng, giống như vừa xác nhận điều mình đã chờ đợi suốt ba trăm năm, rồi bình tĩnh cất tiếng:

"Cuối cùng… người thứ mười ba cũng đã đến."

Lên đầu trang