1.
Cha ta tên Tạ Hoài Sơn.
Năm ấy, ở Giang Nam nhắc tới nhà họ Tạ, rất ít người không biết.
Nhà ta mở cửa hiệu vải, có kho hàng ở bến Đông, có thương đội thường xuyên qua lại các châu phủ phía nam; tuy chưa tới mức phú khả địch quốc nhưng cũng được xem là gia đình thương phú có tiếng trong vùng.
Phụ thân càng nổi danh hơn.
Ông không phải người giỏi ăn nói, cũng không thích giao du quá nhiều, nhưng trong giới làm ăn lại có danh tiếng cực tốt. Người ta nói chỉ cần hàng hóa đã qua tay Tạ Hoài Sơn thì không sợ thiếu cân thiếu lạng, chỉ cần khế ước đã đóng dấu nhà họ Tạ thì không sợ bị nuốt lời.
Từ khi ta còn nhỏ, phụ thân đã thường xuyên kéo ta ngồi bên cạnh để học xem sổ sách, dạy ta cách nhìn bạc ra vào và nhớ người nhớ việc.
Nhưng khi ấy ta chỉ thấy phiền.
Ta thích chạy ra sân hơn.
Bởi ngoài sân có Tiểu Nguyệt.
Nàng là muội muội ta, năm ấy mới năm tuổi, ngày nào cũng ôm bàn tính chạy khắp nơi, thích nhất là đứng bên cạnh phụ thân nhìn ông tính sổ, có lúc còn nghiêm túc ôm luôn bàn tính vào lòng không chịu trả.
Phụ thân thường cười hỏi:
"Tiểu Nguyệt, sau này lớn lên có muốn giúp cha làm ăn không?"
Nàng đang ôm bàn tính lập tức ngẩng đầu lên, đôi mắt sáng rỡ như vừa được giao việc lớn, gật mạnh đến mức hai búi tóc nhỏ trên đầu cũng lắc lư theo.
"Muốn."
Phụ thân bật cười:
"Vậy con làm gì?"
Tiểu Nguyệt nghiêm túc suy nghĩ một lúc, rồi ôm chặt bàn tính vào lòng như ôm bảo vật, ngẩng chiếc cằm nhỏ lên đáp:
"Con giữ bạc."
Nói xong nàng còn quay sang nhìn ta đầy cảnh giác, đôi mắt tròn vo nheo lại.
"Không cho ca ca tiêu lung tung."
Ta tức đến bật cười, vươn tay muốn gõ đầu nàng.
Tiểu Nguyệt lập tức ôm bàn tính bỏ chạy, vừa chạy vừa cười khanh khách, tiếng cười trong trẻo vang khắp sân, khiến mấy con chim đậu trên mái hiên cũng giật mình bay mất.
Mẫu thân ngồi bên cửa sổ may vá, nhìn hai huynh muội đuổi nhau vòng quanh sân mà lắc đầu bật cười.
Phụ thân cũng cười đến mức gảy sai cả bàn tính, phải cúi đầu tính lại từ đầu.
Còn ta đuổi theo nàng hết một vòng lại một vòng, nhưng lần nào cũng bị nàng nhanh chân trốn sau lưng phụ thân.
Những buổi chiều năm ấy, trong sân nhà họ Tạ lúc nào cũng đầy ắp tiếng cười.
2.
Lầu Ngọc xuất hiện trong đời cha ta như một cơ hội kiếm tiền hoàn hảo.
Khế ước đầy đủ, người bảo lãnh có danh vọng, hàng hóa có thật, lợi nhuận có thật, khoản bạc đầu tiên trở về đúng hẹn, khoản thứ hai cũng vậy, đến mức ngay cả phụ thân ta sau nhiều lần kiểm tra vẫn không tìm được bất kỳ sơ hở nào.
Ông bắt đầu tin.
Mà người khác lại càng tin ông hơn.
Càng ngày càng nhiều bạc được đưa vào, càng ngày càng nhiều người bước lên con thuyền ấy, cho đến khi số bạc tích góp của hàng chục gia đình đều nằm trong tay Lầu Ngọc.
Rồi con thuyền chìm.
Bạc biến mất.
Những lời giải thích vẫn hợp lý, khế ước vẫn đủ dấu, người truyền tin vẫn khách khí, mọi thứ đều giống thật đến mức không ai biết phải bắt đầu nghi ngờ từ đâu.
Phụ thân bắt đầu điều tra.
Ông đi khắp thương hội, kho hàng, bến tàu rồi một ngày trở về với khuôn mặt trắng bệch như người vừa nhìn thấy thứ gì đó không nên nhìn thấy.
Ba ngày sau, ông quyết định báo quan.
Trước khi rời nhà, ông chỉ nói:
"Nếu không báo quan, sau này sẽ còn nhiều người mất mạng hơn."
Đó là câu cuối cùng ta nghe thấy phụ thân nói với tư cách thương nhân.
Đêm hôm ấy, ba người áo đen bước vào chính đường nhà họ Tạ.
Bọn họ không cầm đao, không uy hiếp, chỉ đặt lên bàn một chiếc hài nhỏ thêu hoa quế.
Chiếc hài của Tiểu Nguyệt.
Muội muội ta.
Buổi chiều hôm đó nàng vẫn chơi ở vườn sau.
Người áo đen nhìn phụ thân rồi mỉm cười:
"Lệnh tôn muốn báo quan."
"Hay muốn tìm nữ nhi?"
Sáng hôm sau, phụ thân tới nha môn rút đơn.
Từ đó về sau ông không nhắc tới chuyện báo quan nữa.
Nhà họ Tạ bắt đầu sụp đổ.
Những người từng tin phụ thân kéo tới đòi bạc, cửa hiệu bị sang tay, ruộng đất bị cầm cố, người làm lần lượt bỏ đi, còn mẫu thân ngày ngày ngồi trước cửa chờ Tiểu Nguyệt trở về trong khi phụ thân ngày một già đi.
Một tháng sau, cha treo cổ dưới gốc hòe sau viện.
Thi thể được hạ xuống khi trời còn chưa sáng hẳn.
Trong thư phòng, ngọn đèn vẫn cháy suốt đêm.
Trên bàn là cuốn sổ ghi chép ông chưa từng rời tay.
Trang cuối cùng chỉ có bốn chữ:
"Đừng tới Lầu Ngọc."
Nhưng ở góc giấy còn một vết mực bị quệt nhòe.
Ta giơ tờ giấy lên trước ánh đèn.
Giữa những vệt mực loang lổ ấy, dần hiện ra hai chữ rất mờ.
"Tiểu Nguyệt."
Ta đứng lặng rất lâu.
Ngoài cửa sổ, gió đêm thổi qua sân, ngọn đèn trên bàn khẽ lay động, nhưng ta vẫn nhìn chằm chằm vào hai chữ ấy.
Cho đến lúc chết, phụ thân vẫn chưa từng buông được muội muội ta.
Ba tháng sau, mẫu thân cũng đi theo phụ thân.
Những ngày cuối cùng, bà đã không còn xuống giường nổi nữa, nhưng mỗi khi nghe thấy tiếng mở cổng hay tiếng bước chân ngoài ngõ, ánh mắt vẫn vô thức hướng ra phía cửa.
Đêm đó, bà nắm lấy tay ta rồi khẽ hỏi:
"Trường An... con tìm thấy muội muội chưa?"
Ta nhìn mái tóc của bà.
Chỉ mới vài tháng, những sợi tóc đen đã biến mất gần hết.
Ta biết bà đang đợi điều gì.
Cũng biết mình không thể cho bà câu trả lời ấy.
Thế nhưng nhìn đôi mắt đã dần đục đi vì bệnh tật vẫn cố mở lớn để chờ một tia hy vọng cuối cùng, ta lại không đành lòng khiến bà thất vọng thêm lần nữa.
Cuối cùng ta vẫn gật đầu.
Ta nghe thấy chính mình nói.
"Con sẽ đưa muội ấy về nhà."
Mẫu thân cười.
Bàn tay gầy guộc đang nắm lấy tay ta chậm rãi buông lỏng.
Lời nói dối ấy theo bà xuống mồ.
Ta ngồi bên giường suốt một đêm.
Khi mặt trời mọc lên, ta hiểu từ nay về sau sẽ không còn ai đứng trước mặt che gió chắn mưa cho mình nữa.
Nhưng Tiểu Nguyệt vẫn chưa về nhà.
Cho nên ta không thể ngã xuống.
Sau khi chôn cất mẫu thân, ta quay về nhà cũ một lần cuối.
Nhưng nơi ấy đã không còn là nhà của ta nữa.
Ta đứng trước cổng rất lâu.
Trong sân, cỏ dại đã mọc cao quá mắt cá chân.
Không còn tiếng bàn tính vang lên từ quầy hàng, không còn tiếng mẫu thân gọi ăn cơm từ trong bếp, cũng không còn Tiểu Nguyệt chạy khắp sân rồi nghiêm túc nói sau này sẽ giữ bạc cho cha.
Ta mang theo cuốn sổ của cha và chiếc hài còn lại của Tiểu Nguyệt rời khỏi Giang Nam.
3.
Năm năm sau, ta trở lại Giang Nam.
Khi ấy, ta không còn chút dáng vẻ nào của thiếu gia năm xưa. Gầy đến mức cổ tay chỉ còn da bọc xương, tóc tai rối bù, áo quần vá chằng vá đụp, mặt phủ đầy tro bụi, ta ôm một cái bát mẻ ngồi trước cổng Lầu Ngọc, nhìn chẳng khác gì đám ăn mày ngủ dưới chân cầu ngoài thành.
Người canh cửa từng đá ta xuống rãnh nước, từng đuổi ta chạy khắp con phố, nhưng rồi chẳng bao lâu sau, hắn cũng lười để ý. Một tên ăn mày biết cúi đầu, biết cười ngây ngô, biết tự tránh đường cho khách quý ra vào vốn không đáng để ai ghi nhớ, mà đó cũng chính là điều ta cần.
Ta cứ thế ở lại trước cổng Lầu Ngọc.
Ban ngày xin cơm, ban đêm ngủ dưới mái hiên đối diện. Người khác nhìn thấy một tên ăn mày, còn ta nhìn thấy từng chiếc xe ngựa ra vào, từng gương mặt xuất hiện rồi biến mất, từng món hàng được chuyển qua cửa sau của Lầu Ngọc.
Xe ngựa Triệu gia thường tới vào giờ Tuất. Thương nhân họ Lưu mỗi tháng xuất hiện ba lần. Những xe hàng phủ vải xanh luôn mang theo thứ bùn đỏ lạ lẫm dưới bánh xe. Một gã quản sự mặt sẹo biến mất không dấu vết. Một cô nương áo vàng khóc bên cửa sau rồi không bao giờ xuất hiện nữa.
Ta không hiểu những chuyện ấy có ý nghĩa gì.
Nhưng ta nhớ hết.
Ta không còn bạc để ghi.
Nhưng ta còn đôi mắt để nhìn, còn trí nhớ để nhớ, còn một cái mạng chẳng ai buồn để ý.
Vì thế ta ngồi trước cổng Lầu Ngọc ngày này qua ngày khác, nhìn đủ lâu, nhớ đủ nhiều, chỉ mong một ngày nào đó có thể lần theo những sợi dây tưởng chừng vô nghĩa ấy mà tìm ra khe hở của Lầu Ngọc.
Khi ấy, ta vẫn ngây thơ cho rằng chỉ cần phá được Lầu Ngọc, mọi chuyện sẽ kết thúc.
Mãi về sau ta mới biết, có những hy vọng không phải để cứu người.
Chúng xuất hiện chỉ để khiến người ta nhìn rõ mình sẽ mất thêm những gì.
Sáng sớm hôm ấy, khi ta đang ngồi trước cổng Lầu Ngọc đếm số xe hàng ra vào như thường lệ, bên bờ sông bỗng vang lên tiếng người hô hoán.
"Có xác chết!"
Đám đông rất nhanh tụ lại.
Một thi thể nam nhân bị nước đẩy dạt vào bậc đá ven sông, mặt úp xuống, áo ngoài rách một mảng, còn bàn tay vẫn co quắp như đang nắm chặt thứ gì đó đến phút cuối.
Nha dịch tới rất nhanh.
Người của Lầu Ngọc còn tới nhanh hơn.
Ta chen trong đám người, cúi đầu như mọi tên ăn mày thích xem náo nhiệt khác.
Có người nhận ra thi thể.
"Đây chẳng phải lão Chu sao?"
"Nghe nói mấy ngày trước ông ta muốn tố cáo Lầu Ngọc."
"Suỵt, nhỏ tiếng thôi."
Ta nhìn bàn tay người chết.
Giữa những ngón tay tím tái là một mảnh giấy đã bị nước ngâm nhũn. Phần lớn chữ viết đều tan thành những vệt mực đen loang lổ, chỉ còn sót lại một chữ chưa kịp biến mất.
"Tạ."
Ta đứng im.
Gió thổi qua mặt sông.
Trong khoảnh khắc ấy, ta bỗng có cảm giác mùa đông năm năm trước chưa từng đi qua, nó chỉ lặng lẽ nằm ở đâu đó trong ký ức, chờ một ngày bị kéo trở lại cùng chiếc hài của Tiểu Nguyệt, cùng căn nhà đã mất và những người không còn nữa.
Có những vết thương tưởng đã thành sẹo.
Nhưng chỉ cần chạm đúng chỗ vẫn đau như mới hôm qua.