1.
Người chết là Chu Tam Thuận, một thương nhân nhỏ bán dầu đèn ở phố Tây, không phải đại phú đại quý gì.
Ba ngày trước, khi ông ta bị hai gã hộ viện của Lầu Ngọc kéo ra khỏi cửa, ông ta vẫn ôm chặt một xấp khế ước, gào đến cổ họng bật máu:
“Ta muốn báo quan!”
“Các ngươi lừa bạc của ta!”
“Các ngươi ép chết nhà ta!”
Ông ta đứng trước cổng Lầu Ngọc chửi suốt một buổi chiều hôm ấy. Người qua đường đều tránh đi thật nhanh như sợ bị liên lụy, còn ta nhớ rất rõ đôi giày bên trái của ông ta đã mòn lệch, mỗi bước đi đều kéo lê trên mặt đất.
Vì thế, khi nhìn thấy đôi giày ấy lộ ra dưới tấm chiếu phủ xác, ta lập tức nhận ra người chết là ai.
Quản sự áo xanh của Lầu Ngọc ghé vào tai tên nha dịch nói vài câu.
Ngay sau đó, mấy người sai dịch liền bước tới kéo tay Chu Tam Thuận ra, rõ ràng mục tiêu không phải thi thể, mà là mảnh giấy ông ta nắm chặt đến lúc chết.
Ta cúi thấp đầu.
Những năm qua dạy ta một chuyện: muốn nhìn thấy thứ người khác không muốn ngươi nhìn thấy, trước hết phải khiến bản thân trông như kẻ không đáng để ai chú ý.
Mảnh giấy bị nước sông ngâm đến mềm nhũn, vừa kéo ra đã rách mất một góc.
Tên nha dịch nhíu mày.
Quản sự áo xanh cũng cúi xuống nhìn.
2.
Ngay lúc đó, ta thấy trong đám người có một nam nhân trung niên mặc áo xám hơi nghiêng người về phía trước.
Ông ta không giống người xem náo nhiệt.
Người xem náo nhiệt thường thích chen, thích hỏi, thích thò cổ nhìn thêm một cái; còn ông ta đứng rất yên, yên đến mức giống một cái bóng bị kẹt giữa đám đông.
Khi mảnh giấy lộ ra chữ “Tạ”, sắc mặt ông ta thay đổi.
Chỉ một thoáng rất ngắn.
Ngắn đến mức nếu không phải ta đã quen nhìn mặt người ra vào Lầu Ngọc suốt nhiều năm, có lẽ cũng sẽ bỏ qua.
Ông ta lập tức cúi đầu, xoay người đi khỏi đám đông.
Ta không đuổi theo ngay.
Một tên ăn mày nếu vừa nhìn thấy xác chết đã lập tức bám theo một người lạ, vậy thì không còn là ăn mày nữa.
Ta vẫn đứng đó, nhìn nha dịch dùng chiếu rách cuốn thi thể Chu Tam Thuận lại, nhìn quản sự áo xanh quay về Lầu Ngọc, nhìn đám đông dần tản ra, nhìn nước mưa rửa sạch vệt bùn đọng trên bậc đá.
Đến khi không còn ai để ý đến ta, ta mới nhặt cái bát mẻ dưới đất, khom lưng đi về phía đầu phố.
Nam nhân áo xám đi rất chậm.
Ông ta vòng qua ba con ngõ, dừng trước quầy bánh hấp một lúc, lại ghé vào sạp trà cũ uống nửa chén trà rồi mới men theo bến sông đi về phía nam. Trên suốt quãng đường ấy, ông ta liên tục ngoái đầu quan sát, rõ ràng đang đề phòng bị người khác theo dõi.
Nhưng ta không đi phía sau.
Ta đi bên kia phố, khi thì ngồi xuống xin cơm, khi thì nép dưới mái hiên tránh mưa, lúc lại lẫn vào đám phu khuân hàng ở bến sông, giống hệt một tên ăn mày lang thang không có chỗ về.
Loại việc này ta đã làm suốt nhiều năm.
Năm năm lang bạt không cho ta bạc, không cho ta quyền thế, nhưng dạy ta cách đứng giữa đám đông mà không bị bất kỳ ai ghi nhớ.
Nam nhân áo xám sống một mình trong căn nhà cũ nằm gần bến sông. Quanh đó chỉ lác đác vài nóc nhà, cả khu vực vắng vẻ đến hoang vu. Căn nhà đã xuống cấp từ lâu, cánh cửa gỗ mục nát, những mảng tường loang lổ bong tróc, dưới mái hiên lặng lẽ treo vài bó cỏ khô đã ngả màu.
Ông ta đẩy cửa bước vào, một lát sau lại đi ra với một cái tay nải trong tay, đứng trước sân nhìn về phía cửa thành rất lâu như đang cân nhắc có nên rời khỏi Giang Nam ngay hay không.
Cuối cùng, ông ta vẫn quay trở vào.
Ta ẩn mình dưới một lán hoang cách đó không xa. Đó vốn là nơi người qua đường dừng chân tránh nắng, nhưng đã bỏ không từ lâu, mái lá rách nát, cột gỗ xiêu vẹo. Ta ôm chiếc bát sứt mẻ, dựa lưng vào cột gỗ, khép hờ mắt, giả vờ ngủ như một gã ăn mày kiệt sức sau chặng đường dài.
Ngày hôm đó từ sáng đến chiều, ông ta chỉ mở cửa ba lần: một lần mua bánh khô, một lần ra bờ sông đứng nhìn dòng nước, còn lần cuối cùng thì đứng rất lâu ở ngưỡng cửa, bàn tay đặt trên then gỗ, môi khẽ mấp máy như đang tự thuyết phục chính mình điều gì đó.
Ta không nghe rõ ông ta nói gì.
Nhưng nhìn dáng vẻ ấy, ta bỗng có cảm giác người trước mặt vừa muốn bỏ chạy, lại vừa biết mình đã không còn nơi nào để chạy nữa.
Đêm xuống.
Mưa bắt đầu nặng hạt hơn.
Những chiếc thuyền chở hàng neo sát bờ, dây thừng bị nước kéo căng, thỉnh thoảng phát ra tiếng kẽo kẹt như người nghiến răng trong mộng.
Ta vòng ra phía sau căn nhà, mượn đống củi mục dưới chân tường trèo vào sân. Trong nhà chỉ đốt một ngọn đèn dầu nhỏ đặt giữa bàn, ánh sáng vàng nhạt hắt lên gương mặt nam nhân áo xám, khiến ông ta già hơn ban ngày rất nhiều.
Nghe thấy tiếng động, ông ta lập tức quay đầu, bàn tay chộp lấy con dao nhỏ bên cạnh.
"Ai?"
Ta đứng dưới mái hiên không nhúc nhích.
"Người chết bên bờ sông hôm nay là Chu Tam Thuận."
Sắc mặt ông ta lập tức thay đổi.
"Ta không biết ngươi đang nói gì."
"Nhưng ông biết mảnh giấy trong tay ông ấy viết gì."
Bàn tay cầm dao khẽ run lên.
Ta nhìn ông ta, chậm rãi nói tiếp rằng mình đã thấy ông xuất hiện trong đám đông, cũng thấy ông cầm tay nải đứng trước cửa thành rất lâu rồi cuối cùng lại quay về. Nghe đến đó, ông ta không trả lời ngay mà bước nhanh tới đóng cửa sổ, nhìn ra ngoài một lượt rồi mới quay lại, trong mắt đã không còn vẻ bình tĩnh giả tạo lúc đầu.
"Ngươi rốt cuộc là ai?"
Ta nhìn ngọn đèn dầu trên bàn.
Ánh lửa rất yếu, yếu đến mức chỉ cần một cơn gió lọt vào là có thể tắt bất cứ lúc nào.
"Tạ Trường An."
Con dao trong tay ông ta rơi xuống nền gạch.
Ông ta nhìn ta rất lâu, cuối cùng môi ông ta run lên.
"Ngươi là con trai Tạ Hoài Sơn?"
Ta gật đầu.
Ông ta ngồi phịch xuống ghế như bị rút sạch sức lực.
"Ngươi còn sống..."
Câu nói ấy khiến lòng ta khẽ trầm xuống, bởi ông ta không hỏi nhà họ Tạ còn ai hay không, cũng không hỏi ta đã sống thế nào suốt những năm qua, ông ta chỉ kinh ngạc vì ta còn sống, giống như trong nhận thức của ông ta, năm năm trước ta đáng lẽ đã phải chết cùng nhà họ Tạ.
Ta khép cửa lại.
"Ông là ai?"
Ông ta cúi đầu nhìn đôi tay gầy gò còn vương những vết mực cũ.
"Ta tên Lưu Kế."
Ta chưa từng nghe cái tên này.
"Trước kia ta quản một tuyến bạc của Tài Bạc Đường."
Ba chữ Tài Bạc Đường vừa thốt ra, căn phòng dường như lập tức yên tĩnh hơn vài phần.
"Tài Bạc Đường là gì?"
Lưu Kế nhìn ta, khóe môi nhếch lên một nụ cười vừa chua chát vừa mỏi mệt.
"Ngươi cho rằng Lầu Ngọc bán gì? Mỹ nhân, rượu ngon hay những khúc đàn đáng giá ngàn vàng?"
Ông ta lắc đầu.
"Không. Từ đầu tới cuối, thứ bọn chúng bán chỉ có một thứ."
Ông ta nhìn thẳng vào ta.
"Giấc mộng làm giàu."
“Tạ Hoài Sơn là người cẩn thận nhất trong số những thương nhân ta từng gặp. Ông ấy xem khế ước, xem hàng hóa, xem đường vận chuyển, hỏi người bảo đảm, ghi cả màu dây buộc trên rương bạc. Người như vậy, nếu ngay từ đầu đưa cho ông ấy một cái bẫy rỗng, ông ấy sẽ không bao giờ bước vào.”
“Cho nên lúc bắt đầu, mọi thứ đều phải là thật.”
Lưu Kế nhìn ngọn đèn dầu trước mặt, giọng khàn đặc như đang nhắc lại một cơn ác mộng đã thuộc lòng từ rất nhiều năm trước.
“Bạc là thật. Lãi là thật. Hàng là thật. Ngay cả người bảo đảm cũng là thật.”
“Chỉ có như vậy, người ta mới tin rằng mình kiếm được tiền nhờ bản lĩnh của chính mình.”
Ta không nói gì.
Bên ngoài, mưa vẫn rơi lộp bộp trên mái ngói.
“Cha ngươi không phải người đầu tiên.”
Lưu Kế bỗng nói.
“Cũng không phải người thông minh nhất.”
“Những người bị kéo xuống nước có thương nhân, có địa chủ, có chủ hiệu, thậm chí có cả người từng làm quan. Bọn họ thua không phải vì ngu, mà vì đến lúc nhận ra có vấn đề thì đã đặt quá nhiều thứ lên bàn cược rồi.”
Ta siết chặt tay dưới tay áo.
“Vậy bạc đi đâu?”
Lưu Kế nhìn ta, khóe môi khẽ nhếch lên thành một nụ cười vừa giống chế giễu vừa giống thương hại.
“Đến lúc ngươi tìm được đáp án cho câu hỏi đó, người muốn giết ngươi sẽ nhiều hơn bây giờ gấp mười lần.”
Ngọn đèn dầu trên bàn khẽ lay động.
Suốt quãng thời gian ngồi trước cổng Lầu Ngọc, ta từng cho rằng mình đã nhìn thấy rất nhiều thứ: những chiếc xe ngựa ra vào lúc nửa đêm, những hộp gỗ đàn hương mang vào nặng mà mang ra nhẹ, những gương mặt quen thuộc bỗng dưng biến mất không dấu vết.
Nhưng đến lúc này ta mới hiểu, tất cả những gì mình thấy chẳng qua chỉ là mặt nước phẳng lặng, còn bên dưới lớp nước ấy, có thứ gì đó đã âm thầm nuốt người suốt nhiều năm mà chưa từng để lại tiếng động.
Ta nhìn Lưu Kế.
“Vì sao hôm nay ông nhìn thấy mảnh giấy kia lại sợ như vậy?”
Ánh mắt ông ta dừng trên ngọn đèn dầu đang lay động giữa gió, rất lâu sau mới thấp giọng đáp:
“Vì Chu Tam Thuận từng tới tìm ta.”
“Hai người quen nhau?”
Lưu Kế lắc đầu.
“Không quen, nhưng hắn biết ta từng ra vào bến Đông nhiều năm trước nên khi tìm được chút manh mối, người đầu tiên hắn nghĩ tới lại là ta; hắn nói trong tay mình có chứng cứ, nói nếu không tố cáo Lầu Ngọc thì con trai hắn sớm muộn cũng bị ép bán vào sòng bạc để gán nợ.”
“Ông giúp hắn?”
“Ta bảo hắn đi.”
Lưu Kế cúi đầu nhìn đôi bàn tay đã nổi đầy gân xanh.
“Ta bảo hắn bạc mất rồi còn có thể kiếm lại, nhưng người chết rồi thì không có lần thứ hai.”
“Vậy vì sao hắn vẫn chết?”
Lưu Kế ngẩng đầu.
Đôi mắt đỏ ngầu nhưng khô khốc.
“Vì hắn không nghe.”
Căn nhà cũ nhất thời yên lặng tới mức chỉ còn tiếng mưa rơi ngoài mái hiên.
Một lúc lâu sau, Lưu Kế mới cất tiếng:
“Thứ đáng sợ nhất chưa bao giờ là Lầu Ngọc.”
Ta nhìn ông ta.
Giọng nói của ông ta rất thấp, thấp tới mức gần như hòa lẫn vào tiếng mưa ngoài cửa.
“Thứ đáng sợ là luôn có người biết ai đang chuẩn bị mở miệng.”
Tim ta bỗng trĩu xuống.
Cha vừa định báo quan thì chiếc hài của Tiểu Nguyệt đã xuất hiện trên bàn.
Chu Tam Thuận vừa nói muốn tố cáo thì xác đã trôi dưới bậc đá.
Lưu Kế chỉ mới nhận ra mảnh giấy ấy giữa đám đông mà cả ngày nay đã hoảng hốt tới mức muốn lập tức rời khỏi Giang Nam.
Ta nhìn ông ta.
“Là ai?”
3.
Lưu kế không đáp ngay, chỉ chậm rãi cúi xuống kéo viên gạch dưới chân tường ra.
Bên trong là một túi vải dầu.
Ông ta đặt nó lên bàn, lấy ra vài tờ khế cũ, một mảnh lệnh bài gỗ rồi dừng lại ở tờ giấy cuối cùng.
Bàn tay run rất khẽ.
"Mấy năm nay..."
Ông ta nhìn ta.
"Ta chỉ gặp duy nhất một người."
Ta bước lên nửa bước.
"Là ai?"
Lưu Kế mở miệng.
Nhưng lời còn chưa kịp nói hết, một tiếng "phập" rất khẽ đã vang lên, nhẹ tới mức giống như vật sắc nhọn xuyên qua tấm vải ướt; cổ họng Lưu Kế lập tức bật tung một vệt máu, mũi tên xuyên thẳng qua yết hầu rồi ghim sâu vào cột gỗ phía sau.
Ta đứng chết lặng.
Lưu Kế cố nâng tay, máu không ngừng tràn khỏi khóe miệng, dường như vẫn muốn nói điều gì đó nhưng cuối cùng chỉ phát ra những âm thanh nghẹn lại trong cổ họng rồi bất lực gục xuống.
Cũng đúng lúc ấy, bên ngoài sân vang lên tiếng bước chân đều đặn đang chậm rãi tiến lại gần, không hề vội vã cũng chẳng có chút hỗn loạn nào, giống như những kẻ tới đây từ đầu đã biết chắc trong căn nhà này sẽ có người phải chết.
Một luồng khí lạnh lập tức bò dọc sống lưng.
Ta chộp lấy túi vải dầu rồi dập tắt ngọn đèn trên bàn, khiến cả căn nhà chìm hẳn vào bóng tối, nhưng tiếng bước chân bên ngoài vẫn không hề dừng lại mà đang từ bốn phía chậm rãi ép tới, giống như một chiếc lưới đã giăng sẵn từ lâu và lúc này mới bắt đầu khép miệng.
Tiếng cửa trước rung lên từng hồi, những thanh gỗ mục phát ra âm thanh răng rắc như sắp vỡ vụn bất cứ lúc nào, khiến ta không còn thời gian suy nghĩ thêm; ôm chặt túi vải dầu vào ngực, ta lao thẳng về phía cửa sau, mặc cho cú va chạm đầu tiên khiến bả vai đau buốt, rồi nghiến răng đâm mạnh lần thứ hai.
Then cửa bật gãy.
Cả người ta theo quán tính lăn nhào xuống nền bùn phía sau nhà.
Gần như cùng lúc, một mũi tên cắm phập xuống cánh cửa ngay trên đỉnh đầu.
Ta bật dậy bỏ chạy.
Sau lưng, một giọng nói rất khẽ chậm rãi vang lên:
"Còn một tên."
4.
Ta lao thẳng xuống bến sông.
Tiếng quát tháo phía sau nhanh chóng bị dòng nước lạnh buốt nuốt chửng khi cả người ta rơi xuống sông, chỉ kịp ôm chặt túi vải dầu trước ngực rồi để dòng nước cuốn mình trôi về phía hạ lưu, mặc cho lồng ngực đau như muốn nổ tung cũng không dám ngoi lên, bởi ta biết trên bờ vẫn có người đang chờ mình lộ mặt.
Đợi tới khi trời gần sáng, ta mới men theo bờ sông quay trở lại.
Manh mối đầu tiên sau năm năm vừa lóe lên đã bị người ta dập tắt ngay trước mắt, nhưng dù chỉ còn một phần vạn hy vọng, ta vẫn muốn quay lại xem Lưu Kế có để lại thứ gì hay không.
Cánh cửa căn nhà vẫn mở.
Nhưng bên trong sạch sẽ tới đáng sợ.
Thi thể không còn.
Máu không còn.
Những khế ước trên bàn cũng không còn.
Mọi dấu vết của đêm qua đều đã bị xóa sạch, giống như chủ nhân nơi này chưa từng tồn tại.
Ta lục soát khắp căn nhà nhưng không tìm được bất cứ thứ gì, cho tới lúc chuẩn bị rời đi mới nhìn thấy một vệt máu rất mờ phía sau chiếc tủ gỗ; dấu máu kéo dài sát chân tường như thể có người đã cố bò tới đó trong những giây phút cuối cùng.
Ta ngồi xổm xuống, gạt lớp bụi ẩm trên nền gạch rồi chạm phải một đồng tiền đồng cũ đã bị khoét mất một góc nằm giữa vệt máu đã khô; nhưng thứ khiến ta khựng lại không phải đồng tiền ấy mà là những nét máu đã bị lau qua và giẫm đạp tới gần như không còn hình dạng, bởi sau khi lần theo từng dấu vết đứt đoạn còn sót lại, ta vẫn miễn cưỡng nhận ra hai chữ trên nền gạch.
Bạch Yên.
Ta cúi đầu nhìn đồng tiền nằm giữa vệt máu dưới chân.
Người hấp hối sẽ không cố bò tới một nơi vô nghĩa.
Nếu Lưu Kế liều mạng để lại cái tên này trước khi chết, vậy đồng tiền nằm cạnh nó hẳn cũng không phải ngẫu nhiên.
Ta siết chặt đồng tiền rồi nhét vào ngực áo, sau đó chậm rãi ngẩng đầu nhìn ra ngoài cửa, nơi trời đã sáng từ lúc nào, còn bên kia mặt sông, những chiếc đèn lồng đỏ dưới mái hiên Lầu Ngọc vẫn lặng lẽ đung đưa trong gió như thể đêm qua chưa từng có ai chết.