1.
Sau khi Thẩm Quan Lan bị áp giải về kinh, Đại Lý Tự, Thiên Cơ Các cùng các nha môn địa phương gần như không có lấy một ngày yên ổn.
Không ít người cho rằng mọi chuyện đã khép lại khi những mắt xích quan trọng lần lượt bị lôi ra ánh sáng, những đường dây lớn bị chặt đứt, còn kẻ đứng sau cùng cũng đã sa lưới; theo lẽ thường, vụ án đáng ra phải dừng lại ở đó.
Nhưng thực tế lại hoàn toàn ngược lại.
Bởi từ khoảnh khắc mật thất dưới trang viên bị mở ra, thứ được tìm thấy bên trong không chỉ là chứng cứ phạm tội mà còn là vô số hồ sơ, sổ sách, thư từ, danh sách giao dịch cùng những ghi chép kéo dài gần mười năm, nhiều đến mức phải dùng từng xe ngựa để vận chuyển về nha môn.
Những cuộc truy bắt thực sự chỉ mới bắt đầu từ lúc ấy.
Ta vẫn nhớ ngày đầu tiên Đại Lý Tự khớp xong một phần hồ sơ.
Một đội quan sai đào được kho bạc bí mật dưới nền một kho hàng bỏ hoang cách thành hơn ba mươi dặm; bên ngoài nơi ấy cỏ dại mọc cao quá đầu người, mái ngói sập gần hết, nhìn chẳng khác gì một phế tích bị bỏ quên nhiều năm, nhưng ngay dưới lớp đất mục nát lại chôn kín hàng chục rương bạc.
Ba ngày sau, một hiệu cầm đồ lâu năm trong thành bị niêm phong, quan sai đào xuống nền hậu viện rồi tìm thấy thêm một kho bạc khác.
Tiếp đó là một trang viên ngoại thành.
Một kho hàng ven bến tàu.
Một khu nhà hoang dưới chân núi.
Những địa điểm vốn không hề liên quan tới nhau bắt đầu liên tiếp xuất hiện trong hồ sơ, kéo theo kho bạc thứ nhất, thứ hai, thứ ba rồi thứ tư, thứ năm, thứ sáu; đến cuối cùng, ngay cả những người trực tiếp tham gia điều tra cũng không còn nhớ nổi rốt cuộc đã đào lên bao nhiêu nơi như vậy.
Giống như mỗi lần người ta cắt đứt một sợi dây, phía dưới lại lộ ra thêm vô số sợi khác.
Mỗi ngày đều có thêm người bị bắt.
Mỗi ngày đều có thêm hồ sơ được mở ra.
Có thương hội đang làm ăn yên ổn bỗng bị niêm phong chỉ sau một đêm, có tiêu cục tồn tại hơn mười năm đột nhiên bị điều tra, có quản sự bỏ trốn, có chưởng quỹ tự sát, có những kẻ tưởng như vô can lại xuất hiện trong danh sách giao dịch của Lầu Ngọc.
Những vụ án đã khép lại nhiều năm bị lật mở lần nữa.
Những cái chết từng được kết luận là tự sát bắt đầu xuất hiện nhân chứng mới.
Những người mất tích từ rất lâu, lâu đến mức ngay cả người nhà cũng đã từ bỏ hy vọng tìm kiếm, cuối cùng lại được nhìn thấy tên trong những chồng hồ sơ phủ đầy bụi.
Mỗi cuốn sổ được mở ra đều kéo theo thêm một vụ án, mỗi vụ án lại dẫn tới thêm một nhóm người, còn phía sau mỗi nhóm người ấy lại tiếp tục hiện ra một mạng lưới khác.
Giang Nam giống như một mặt hồ đã bị đóng băng quá lâu, còn những hồ sơ kia chính là những vết nứt đầu tiên; ban đầu chúng chỉ nhỏ tới mức khó nhận ra, nhưng càng đào sâu càng lan rộng, cho tới cuối cùng toàn bộ mặt hồ đều bắt đầu sụp đổ.
Có một đêm ta đứng trong Đại Lý Tự tới tận canh ba.
Khắp đại sảnh đều là hồ sơ.
Những chồng giấy chất đầy trên bàn, tràn xuống mặt đất rồi kéo dài tới tận hành lang; dưới ánh đèn dầu vàng nhợt nhạt, cả đại sảnh trông giống một nghĩa địa khổng lồ được dựng nên từ giấy mực và bí mật.
Vệ Hành đứng trước bức bản đồ Giang Nam treo kín trên tường.
Những dấu son ban đầu chỉ có vài điểm.
Sau đó là vài chục.
Rồi hơn một trăm.
Cuối cùng gần như phủ kín toàn bộ Giang Nam.
Ta nhìn tấm bản đồ ấy rất lâu.
Lần đầu tiên mới hiểu rằng hơn năm năm qua, thứ ta truy đuổi chưa bao giờ chỉ là một thanh lâu, một đám lừa đảo hay một thương hội, càng không phải một tổ chức tội phạm bình thường; tất cả những gì ta nhìn thấy từ trước tới nay chỉ là phần nổi của một khối băng khổng lồ đang trôi trên mặt nước.
Bạch Yên chỉ là một mắt xích.
Tần Vạn Kim chỉ là một mắt xích.
Hắc Hổ Đường cũng chỉ là một mắt xích.
Phía dưới chúng còn vô số sợi dây khác nối chằng chịt với nhau, âm thầm cắm rễ vào từng bến tàu, từng thương hội, từng kho hàng và từng con phố của Giang Nam suốt mười mấy năm trời.
Tới lúc ấy ta mới hiểu.
Sau khi mật thất bị mở ra, Đại Lý Tự mới phát hiện rằng thứ bọn ta bắt được chưa bao giờ chỉ là một tổ chức.
Mà là một mạng nhện.
Một mạng nhện đã ăn người suốt mười năm.
2. MƯỜI NĂM DỆT LƯỚI
Mười năm trước, Lầu Ngọc thực sự chỉ là một thanh lâu nhỏ giữa Giang Nam, không danh tiếng, không thế lực, thậm chí trong những sổ sách cũ nhất còn sót lại, số bạc ra vào mỗi tháng còn chưa bằng một phần của những thanh lâu nổi tiếng trong thành, nhưng cũng chính từ giai đoạn tưởng như tầm thường ấy, những sợi tơ đầu tiên của tấm lưới đã âm thầm được giăng xuống.
Bảy năm trước, trong hồ sơ bắt đầu xuất hiện cái tên Hồng Nhan Đường.
Ban đầu quy mô rất nhỏ, chỉ có vài cô nương, vài quản sự cùng một nhóm khách quen cố định, nhỏ tới mức không ai để tâm, nhưng khi đối chiếu toàn bộ hồ sơ nhân sự, Đại Lý Tự phát hiện những hoa khôi nổi tiếng nhất của Lầu Ngọc về sau đều xuất phát từ cùng một nguồn: các học đường, từ đường và cơ sở từ thiện được người của Thẩm Quan Lan âm thầm tài trợ suốt nhiều năm.
Trong hồ sơ của mỗi người đều ghi rõ tên thật, tên giả, nơi xuất thân, năm được thu nhận và thời gian bắt đầu đào tạo; phần lớn là trẻ mồ côi, trẻ bị bán hoặc những đứa trẻ không còn nơi nương tựa. Những đứa trẻ đẹp nhất, thông minh nhất và khéo léo nhất được chọn ra riêng, được dạy chữ, dạy đàn, dạy thơ, dạy lễ nghi, dạy cách quan sát ánh mắt người khác, cách khiến người khác tin tưởng, thậm chí cách khiến đối phương tự nguyện nói ra những điều vốn không nên nói.
Nhiều năm sau, chúng trở thành hoa khôi, tri kỷ, người trong mộng của vô số kẻ, nhưng trong hồ sơ nội bộ của Lầu Ngọc, tất cả chỉ được gọi bằng một cái tên duy nhất.
Mồi câu.
Năm năm trước, Tài Bạc Đường chính thức hoàn chỉnh, cũng từ đó Lầu Ngọc không còn chỉ câu người mà bắt đầu nuốt bạc.
Qua hàng nghìn trang sổ sách bị thu giữ, Đại Lý Tự phát hiện phần lớn hàng hóa chỉ là lớp vỏ bên ngoài, còn thứ thực sự được vận chuyển lại là nguồn gốc của tiền bạc. Bạc từ cờ bạc, thanh lâu, hối lộ, buôn lậu, lừa gạt và cướp bóc được gom lại rồi liên tục chuyển qua thương hội, tiêu cục, kho hàng, hiệu cầm đồ và bến tàu; một khoản bạc có thể đổi chủ hàng chục lần, một chuyến hàng không tồn tại vẫn xuất hiện trên sổ sách, một món hàng trị giá mười lượng có thể được ghi thành một trăm lượng, cho tới khi trải qua đủ số vòng luân chuyển cần thiết thì không còn ai biết nguồn gốc thực sự của số bạc ấy đến từ đâu.
Tới lúc đó ta mới hiểu.
Tài Bạc Đường chưa từng vận chuyển hàng hóa.
Nó là nơi viết lại xuất thân của bạc.
Để duy trì một mạng lưới khổng lồ như vậy, Lầu Ngọc cần những kẻ tuyệt đối trung thành, và hồ sơ của các mama cùng quản sự nhanh chóng được lật ra, chúng đều có một điểm chung: đủ tham lam để bị cám dỗ, đủ thông minh để điều hành, đủ tàn nhẫn để xuống tay và đủ khôn ngoan để biết lúc nào nên im lặng.
Trong hồ sơ của mỗi người đều ghi chép cực kỳ chi tiết về cha mẹ, vợ chồng, con cái, nơi ở và toàn bộ quan hệ thân thuộc. Ban đầu không ai hiểu những ghi chép ấy dùng để làm gì, cho tới khi đối chiếu với các tài liệu phía sau, mọi người mới nhận ra rằng nếu phản bội thì không phải một người chết, mà là cả nhà chết, bởi phía sau mỗi mama và quản sự luôn có Hắc Hổ Đường giám sát.
Ba năm trước, Hắc Hổ Đường bắt đầu mở rộng với tốc độ đáng kinh ngạc, từng bước kiểm soát bến tàu, kho hàng, tiêu cục và thương hội.
Ban đầu, sau khi quét sạch Hồng Nhan Đường và Tài Bạc Đường, Đại Lý Tự cho rằng phía sau chúng chỉ là một đám côn đồ hoặc lính đánh thuê được nuôi để đòi nợ và giết người.
Nhưng trận đánh ở Thanh Nham Cốc và những hồ sơ thu được sau đó đã chứng minh điều ngược lại.
Những sát thủ trung thành nhất của Hắc Hổ Đường đều xuất thân từ cùng một nguồn với các hoa khôi của Hồng Nhan Đường, cũng là những đứa trẻ được nuôi lớn trong các học đường và từ đường từ thiện ấy. Từ nhỏ chúng đã được lựa chọn, được dạy chữ, dạy võ, dạy phục tùng và trung thành, rồi cuối cùng trở thành những thanh đao sắc nhất trong tay Lầu Ngọc.
Nhưng càng tra sâu, những hồ sơ ấy càng dẫn tới một sự thật khiến cả đại sảnh Đại Lý Tự im lặng rất lâu.
Không ít đứa trẻ trong số đó vốn là con cái của những gia đình từng bị Lầu Ngọc hủy hoại.
Những đứa dưới 6 tuổi đều bị mang đi, đổi tên, đổi thân phận, xóa sạch quá khứ rồi lớn lên dưới sự nuôi dưỡng của chính kẻ đã hủy hoại gia đình mình.
Nhiều năm sau, có người trở thành hoa khôi để kéo thêm nạn nhân vào lưới, có người trở thành quản sự để vận hành mạng lưới, có người trở thành sát thủ để bịt miệng những kẻ muốn thoát khỏi nó.
Tới đây, những dòng chữ trong cuốn sổ kế hoạch cuối cùng cũng hiện ra đầy đủ ý nghĩa.
Ba vạn lượng.
Hai mươi vạn lượng.
Tám mươi vạn lượng.
Chưa bao giờ là mục tiêu.
Đó chỉ là những bậc thang, mà mỗi bậc thang lại mở rộng thêm một tầng mạng lưới, nuốt thêm nhiều người hơn, cho tới dòng cuối cùng:
"Thay thế một nửa thương hội thiên hạ."
Ta nhìn dòng chữ ấy rất lâu rồi chợt hiểu.
Thẩm Quan Lan chưa từng muốn làm chủ một thanh lâu, cũng chưa từng muốn làm chủ một thương hội; điều hắn muốn là dựng nên một hệ thống đủ lớn để tự nuôi sống chính nó, tự mở rộng chính nó và tự sinh ra lớp người kế tiếp thay thế lớp người cũ.
Đọc xong toàn bộ hồ sơ, cả đại sảnh Đại Lý Tự chìm vào một khoảng lặng kéo dài.
Bởi tới lúc ấy mọi người mới hiểu.
Thẩm Quan Lan không dùng mười năm để xây một thanh lâu.
Cũng không dùng mười năm để xây một thương hội.
Hắn dùng mười năm để tạo ra một cỗ máy có thể tự lớn lên bằng chính những nạn nhân mà nó tạo ra.
3. ĐƯA MUỘI MUỘI VỀ NHÀ
Danh sách thật của Hồng Nhan Đường được tìm thấy vào ngày thứ mười bảy sau khi mật thất bị mở ra.
Đó là một quyển sổ rất dày, bên trong kín đặc tên người, từ tên thật, tên giả, nơi xuất thân, năm thu nhận, năm đào tạo cho tới ngày tiếp khách, ngày mất tích và ngày chết.
Suốt nhiều ngày liền, Đại Lý Tự gần như không tắt đèn. Quan sai ra vào liên tục, từng phần hồ sơ được đối chiếu, từng cái tên được xác minh, từng vụ án cũ bị kéo trở lại ánh sáng. Ta cũng ngồi trong đống giấy tờ ấy từ sáng tới đêm, lật từng trang một, chỉ sợ bỏ sót một dòng chữ quan trọng nào đó.
Người đầu tiên ta tìm thấy không phải Tiểu Nguyệt.
Mà là Bạch Yên.
Hồ sơ của nàng mỏng đến đáng thương.
Tên sử dụng: Bạch Yên.
Ngày nhập học đường từ thiện: ba tuổi.
Nguồn gốc: không rõ.
Thân nhân: không rõ.
Ngoài vài dòng ghi chép về quá trình học tập và huấn luyện, toàn bộ phần liên quan đến thân thế đều để trống.
Ta nhìn trang giấy ấy rất lâu.
Cả đời nàng đi tìm thân phận của mình.
Nhưng tới khi Lầu Ngọc sụp đổ, ngay cả hồ sơ của chính Lầu Ngọc cũng không thể trả lời nàng là ai.
Ta tiếp tục lật sổ.
Ngày này qua ngày khác.
Cho tới khi bàn tay ta dừng lại trên một trang giấy đã ngả vàng.
Tên thật: Tạ Tiểu Nguyệt.
Nghệ danh: Nguyệt Nô.
Ngày thu nhận: Năm Khánh Hòa thứ năm.
Nguồn gốc: Con gái Tạ Hoài Sơn.
Ngày chết: Năm Khánh Hòa thứ tám.
Ta ngồi rất lâu.
Quyển sổ vẫn mở trên tay.
Mọi thứ trước mắt dần mờ đi. Tiếng người, tiếng bước chân, ánh đèn trong đại sảnh... tất cả như bị ngăn cách bởi một tầng sương mỏng.
Đầu óc ta trống rỗng.
Không biết đã qua bao lâu.
Cho đến khi Vệ Hành bất ngờ giữ lấy hai vai ta, lay mạnh.
"Tạ Trường An!"
Ta bừng tỉnh, như người vừa bị kéo khỏi một cơn mê.
Ba ngày sau, Đại Lý Tự tìm được một bà lão từng phụ trách chôn cất những cô nương chết trong Lầu Ngọc.
Bà đã rất già, lưng còng xuống theo năm tháng, mái tóc bạc gần hết. Khi nghe người ta nhắc tới cái tên Nguyệt Nô, bà im lặng hồi lâu rồi mới khẽ gật đầu.
"Ta nhớ."
Đó là lần đầu tiên kể từ khi nhìn thấy tên Tiểu Nguyệt trong hồ sơ, ta thật sự cảm thấy nàng từng sống ở nơi này.
Bà lão trở về căn phòng nhỏ phía sau, một lúc sau mới mang ra một chiếc hộp gỗ cũ kỹ.
Bên trong là vài món đồ được giữ lại nhiều năm.
Một cây trâm gỗ.
Một chiếc hài vải nhỏ thêu hoa quế.
Một chiếc khăn tay đã phai màu.
Chiếc hài ấy vừa đặt cạnh chiếc còn lại ta mang theo liền khép thành một đôi hoàn chỉnh.
Còn chiếc khăn tay, ta nhận ra ngay từ cái nhìn đầu tiên.
Năm đó mẫu thân đã ngồi dưới đèn dầu suốt ba đêm mới thêu xong.
Tiểu Nguyệt thích tới mức luôn mang theo bên người.
Bà lão nhìn chiếc khăn rồi khẽ thở dài.
"Con bé đó khác những người khác."
Ta ngẩng đầu.
Bà nhìn ra ngoài cửa sổ, ánh mắt già nua như đang nhìn về một khoảng thời gian rất xa.
"Nó luôn nói mình còn có ca ca."
"Nó bảo ca ca nhất định sẽ tới đón nó."
Bàn tay ta khẽ siết lại.
Bà lão cười.
Một nụ cười vừa bất lực vừa buồn bã.
"Những năm đầu nó còn hỏi."
"Hỏi bao giờ ca ca tới."
"Về sau không hỏi nữa."
"Nhưng mỗi lần nhìn thấy người từ bên ngoài tới, nó vẫn đứng bên cửa sổ rất lâu."
Bà dừng lại.
Rồi chậm rãi nói:
"Nó bảo nếu ca ca tới."
"Nhất định sẽ nhận ra nó."
Trong phòng không còn ai lên tiếng.
Ngay cả Vệ Hành cũng lặng lẽ quay đầu nhìn ra ngoài.
Rất lâu sau, bà lão mới dẫn chúng ta tới nghĩa địa phía tây thành.
Nơi ấy chôn rất nhiều cô nương từng chết trong Lầu Ngọc.
Không bia.
Không tên.
Chỉ có những gò đất nhỏ nằm lặng lẽ giữa cỏ dại, bị mưa gió năm này qua năm khác xóa nhòa gần hết dấu vết.
Bà đứng giữa nghĩa địa, nhìn quanh rất lâu rồi khàn giọng nói:
"Nằm đâu đó trong này."
"Ta cũng không biết là ai."
Ta đứng yên.
Lần đầu tiên sau năm năm, ta biết mình đã tìm thấy Tiểu Nguyệt.
Nhưng lại không biết nàng đang nằm ở đâu.
Ta thắp rất nhiều hương.
Cho những cô nương đã nằm lại nơi này.
Cho những người không còn tên tuổi.
Cho những người tới cuối cùng cũng không thể trở về nhà.
Cuối cùng, ta lấy riêng một nén hương, cắm xuống một gò đất vô danh rồi khẽ nói:
"Bạch Yên."
"Ta không tìm được tên thật của cô."
"Ta cũng không tìm được nhà cho cô."
"Nhưng từ hôm nay."
"Cô được tự do rồi."
Gió chiều thổi qua nghĩa địa.
Khói hương chậm rãi bay lên trời.
Hôm ấy, ta mang cây trâm gỗ, mang chiếc hài nhỏ và chiếc khăn tay trở về.
Bên cạnh phần mộ của phụ thân và mẫu thân, ta dựng thêm một tấm bia mới.
Trên bia chỉ có năm chữ.
Tạ Tiểu Nguyệt chi mộ.
Mặt trời dần lặn xuống sau núi.
Ánh chiều phủ lên ba ngôi mộ nằm cạnh nhau.
Ta đặt chiếc khăn tay xuống trước bia đá, lặng lẽ phủi đi lớp bụi cuối cùng rồi khẽ nói:
"Tiểu Nguyệt."
"Chúng ta về nhà rồi."
4. BỐ CÁO THIÊN HẠ
Mùa xuân năm ấy, một đạo thánh chỉ từ kinh thành được truyền xuống Giang Nam, mang theo toàn bộ kết quả điều tra suốt nhiều tháng trời của Đại Lý Tự, Thiên Cơ Các và các nha môn địa phương.
Tội trạng của Thẩm Quan Lan.
Tội trạng của Lầu Ngọc.
Danh sách những kẻ liên quan.
Từ Hồng Nhan Đường tới Tài Bạc Đường, từ Hắc Hổ Đường cho tới những thương hội ngầm phía sau, tất cả đều được công bố trước thiên hạ, không còn điều gì bị che giấu, cũng không còn ai có thể phủ nhận.
Nhà họ Tạ được minh oan.
Những tài sản còn sót lại lần lượt được hoàn trả.
Tên tuổi phụ thân ta cũng được xóa khỏi danh sách những người phạm tội năm xưa.
Tờ bố cáo được dán khắp các châu phủ.
Ngày nào trước cổng nha môn cũng chật kín người.
Có người chửi rủa.
Có người thở dài.
Có người đứng rất lâu rồi lặng lẽ lau nước mắt.
Nhưng tất cả những điều ấy đối với ta đã không còn quan trọng nữa.
Bởi những người đáng nhìn thấy tờ bố cáo ấy nhất đã không còn ở đây.
Ba năm sau.
Ta mở một quán trà nhỏ ở ngoại thành.
Quán không lớn.
Cũng chẳng nổi tiếng.
Ngày ngày pha trà, đọc sách, nghe khách qua đường kể những câu chuyện mới của thiên hạ; thỉnh thoảng lên núi thắp hương cho phụ thân, mẫu thân và Tiểu Nguyệt, rồi lại trở về tiếp tục sống những ngày tháng bình lặng tới mức đôi khi chính ta cũng cảm thấy xa lạ.
Vệ Hành vẫn ở Thiên Cơ Các.
Chúng ta không gặp nhau nhiều.
Nhưng thi thoảng vẫn có thư từ qua lại.
Phần lớn đều là những chuyện vụn vặt.
Cho tới một ngày đầu xuân.
Một phong thư mới được đưa tới quán trà.
Ta mở thư.
Vẫn là nét chữ quen thuộc.
Vẫn là giọng điệu khiến người ta muốn đánh hắn như ngày nào.
Trong thư chỉ có hai dòng.
"Ta đang điều tra một vụ án."
"Thiếu một người."
"Đi một chuyến không?"
Ta nhìn lá thư một lúc rồi bật cười.
Ngoài cửa, nắng xuân vừa đẹp.
Người qua đường tấp nập.
Gió mang theo mùi trà mới lướt qua hiên nhà.
Ta gấp lá thư lại, uống cạn chén trà trong tay rồi chậm rãi đứng dậy.
Ba năm qua, ta vẫn luôn nghĩ mọi chuyện đã kết thúc.
Nhưng có lẽ trên đời này luôn có những con đường mà một khi đã bước lên rồi thì rất khó quay đầu.
Ta gấp lá thư lại. Uống cạn chén trà trong tay. Rồi đứng dậy. Xem ra. Lần này lại phải đi một chuyến rồi.