Chương 4: Ánh Trăng Sáng

3,912 words · 20 min read

Sau vụ án nha hoàn Triệu phủ, ta rút ra được một đạo lý rất sâu sắc.

Có những người nhìn như người tốt, thật sự cũng rất giống người tốt.

Ví dụ như Tống Ngọc Chi.

Hắn không chỉ giúp ta thoát khỏi hiềm nghi giết người, còn đưa bánh hạnh nhân cho ta, lại đứng dưới mưa che ô rất lâu mà không hề tỏ ra mất kiên nhẫn. Một người có thể nhớ rõ ta thích ăn bánh gì, còn không chê ta thường xuyên dính vào chuyện xui xẻo, nếu không phải người tốt thì chẳng lẽ là Bồ Tát xuống trần lịch kiếp sao?

Chỉ là hắn xuất hiện hơi nhiều.

Ta vừa ra khỏi phủ nha, hắn có mặt.

Ta bị người ta chỉ trỏ, hắn có mặt.

Ta đi mua bánh, hắn cũng có mặt.

Ta từng rất nghiêm túc nghĩ xem có phải kinh thành quá nhỏ hay không, nhỏ đến mức người tốt và người xui xẻo luôn dễ dàng gặp nhau như vậy.

Sau đó ta phát hiện.

Không chỉ hắn.

Dạo gần đây, Thẩm Hoài Cẩn cũng xuất hiện hơi nhiều.

...

Đêm ấy, Đại Lý Tự đèn sáng suốt canh ba.

Một ám vệ áo đen quỳ trong thư phòng, hai tay nâng lên một chiếc chuông bạc đã cũ.

“Đại nhân, vật này xuất hiện trong phủ Thừa tướng.”

Thẩm Hoài Cẩn vốn đang xem hồ sơ, đầu bút dừng lại rất lâu, mực đọng trên giấy thành một vệt đen nhỏ.

Ám vệ không dám ngẩng đầu.

Trong thư phòng yên tĩnh đến mức chỉ nghe thấy tiếng gió thổi qua cửa sổ.

Một lúc sau, Thẩm Hoài Cẩn mới đưa tay nhận lấy chiếc chuông.

Chuông bạc vừa chạm vào lòng bàn tay hắn, tiếng leng keng rất khẽ vang lên, giống như có thứ gì đó từ nhiều năm trước bỗng bị kéo ra khỏi bụi tuyết.

...

Năm đó, tuyết rơi rất lớn.

Thiếu niên mười ba tuổi ngã trong miếu hoang, vai trái bị đâm một nhát, máu thấm qua áo mỏng, lạnh đến mức ngay cả hơi thở cũng như bị đông cứng lại.

Hắn nghe thấy bên ngoài có tiếng bước chân rất nhỏ.

Sau đó, một tiểu cô nương chui vào.

Nàng rõ ràng sợ đến mức tay run, nước mắt còn treo trên mặt, nhưng vẫn ngồi xổm xuống trước mặt hắn, dùng một miếng vải sạch vụng về băng vết thương lại.

“Ngươi đừng chết.”

Nàng vừa khóc vừa nói.

“Ngươi mà chết ở đây, ta sẽ bị dọa đến ngủ không được.”

Hắn khi ấy đã gần như không mở nổi mắt, chỉ nhớ nàng nhét nửa cái bánh vào tay hắn, trên cổ tay có tiếng chuông bạc khẽ vang.

Rất nhẹ.

Nhưng hắn nhớ rất nhiều năm.

...

Thẩm Hoài Cẩn mở mắt.

Trong phòng chỉ còn ánh đèn lạnh.

Hắn siết chiếc chuông trong tay, hồi lâu sau mới nói:

“Đi tra.”

Ám vệ lập tức cúi đầu.

“Tra đến mức nào?”

Thẩm Hoài Cẩn đặt chiếc chuông bạc lên bàn.

“Tra đến khi không còn gì để tra.”

...

Ba ngày sau, kết quả được đưa tới.

Tuổi tác khớp.

Thời gian khớp.

Năm đó Liễu Như Yên từng theo Thừa tướng tới ngoại ô dâng hương, đúng lúc đi ngang qua ngọn núi ấy.

Ngay cả một lão bộc trong phủ Thừa tướng cũng nói, tiểu thư khi ấy từng bị lạc nửa canh giờ, sau khi trở về trên tay có vết máu, còn làm mất một chiếc chuông bạc.

Mọi thứ đều đúng.

Đúng đến mức gần như không thể nghi ngờ.

Thẩm Hoài Cẩn nhìn từng dòng chữ trên giấy, sắc mặt vẫn lạnh như thường, chỉ có đầu ngón tay đặt trên hồ sơ khẽ gõ một cái.

Ám vệ hỏi:

“Đại nhân, có cần chuẩn bị lễ tới phủ Thừa tướng không?”

Thẩm Hoài Cẩn không đáp ngay.

Một lát sau, hắn chỉ nói:

“Tiếp tục tra.”

Ám vệ sững người.

Thẩm Hoài Cẩn cụp mắt.

“Quá đúng.”

“Đúng đến mức không giống thật.”

...

Cùng lúc đó, trong thư phòng phủ Thừa tướng, Liễu Như Yên đang quỳ trước án.

Nàng vẫn mặc áo trắng, lưng thẳng, dáng vẻ đoan trang như mọi khi, chỉ là đầu ngón tay giấu trong tay áo đã siết đến trắng bệch.

“Phụ thân.”

Giọng nàng rất khẽ.

“Nếu Thẩm đại nhân tra ra…”

Liễu Chính đặt chén trà xuống.

Tiếng sứ chạm mặt bàn rất nhẹ, nhưng Liễu Như Yên lập tức im bặt.

“Tra ra cái gì?”

Thừa tướng nhìn nàng, ánh mắt bình thản đến mức khiến người ta lạnh sống lưng.

“Tra ra người cứu hắn năm xưa không phải con?”

Liễu Như Yên cúi đầu sâu hơn.

Liễu Chính cười một tiếng.

“Người cứu hắn là ai không quan trọng.”

“Quan trọng là từ hôm nay.”

“Con phải là người đó.”

Liễu Như Yên không dám nói nữa.

Trong mắt người ngoài, nàng là đệ nhất tài nữ kinh thành, là viên minh châu trong tay Thừa tướng, là cô nương sinh ra đã đứng trên mây. Nhưng chỉ có nàng biết, trong phủ này, phụ thân chưa từng cần một nữ nhi biết sợ, ông chỉ cần một quân cờ biết nghe lời.

Liễu Chính chậm rãi nói:

“Thẩm Hoài Cẩn tuổi trẻ đã làm Đại Lý Tự Thiếu Khanh, sau lưng lại được hoàng thượng tin dùng. Người như vậy, nếu không đứng về Liễu gia, sớm muộn cũng thành lưỡi dao chĩa vào Liễu gia.”

Liễu Như Yên run nhẹ.

“Cho nên…”

“Cho nên hắn phải trở thành người một nhà.”

Bốn chữ ấy rơi xuống.

Nhẹ bẫng.

Nhưng giống như đóng đinh vào lưng Liễu Như Yên.

Liễu Chính nhìn nàng rất lâu, rồi bỗng dịu giọng:

“Như Yên, cha nuôi con nhiều năm như vậy, không phải để con sợ hãi trước một cơ hội tốt.”

Liễu Như Yên cúi đầu.

“Con hiểu.”

Liễu Chính hài lòng.

“Vậy thì cười lên.”

“Ngoài kia, người ta vẫn thích thấy con cười.”

...

Tin đồn lan nhanh hơn gió.

Ngày đầu tiên, người ta nói Thẩm Hoài Cẩn tìm được ân nhân năm xưa.

Ngày thứ hai, người ta nói ân nhân ấy là Liễu Như Yên.

Ngày thứ ba, đến đứa trẻ bán kẹo ngoài phố cũng biết, Thẩm đại nhân lạnh lùng nhiều năm như vậy, hóa ra trong lòng vẫn giấu một ánh trăng sáng.

Ta nghe được chuyện này trong trà lâu.

Khi đó ta đang ăn bánh hạt sen.

Nói thật, ta không hứng thú với Thẩm Hoài Cẩn, nhưng ta rất hứng thú với chuyện người khác giấu trong lòng một ánh trăng sáng nhiều năm. Dù sao loại chuyện này nghe qua vừa lãng mạn vừa rảnh rỗi, rất hợp để ăn bánh nghe kèm.

Người kể chuyện trên đài nói đến mức nước bọt bay tứ tung.

“Năm ấy tuyết lớn đầy trời, Thẩm đại nhân trọng thương ngã trong miếu hoang, Liễu tiểu thư mới tám tuổi đã cõng ngài xuống núi, một đường máu hòa với tuyết, tình sâu nghĩa nặng, trời đất chứng giám!”

Cả trà lâu đồng loạt thở dài.

“Cảm động quá.”

“Đúng là duyên trời định.”

“Liễu tiểu thư thật xứng với Thẩm đại nhân.”

Ta cắn bánh, suy nghĩ một lát.

Sau đó thành thật hỏi:

“Một tiểu cô nương tám tuổi thật sự cõng nổi người sao?”

Trà lâu lập tức yên tĩnh.

Ta ngẩng đầu.

Mọi người đều nhìn ta.

Ta cũng nhìn lại bọn họ, trong lòng hơi khó hiểu, bởi vì ta chỉ hỏi một câu rất bình thường. Năm ta tám tuổi còn không cõng nổi một bao gạo nhỏ, nếu cõng một thiếu niên bị thương xuống núi, ta cảm thấy mình và thiếu niên kia có thể cùng nhau lăn xuống chân núi.

Một vị cô nương áo vàng lập tức cau mày.

“Tạ Thanh Ninh, cô nương có ý gì?”

Ta đáp:

“Ta không có ý gì.”

“Ta chỉ hỏi cõng kiểu gì.”

Một thư sinh bên cạnh cười lạnh.

“Liễu tiểu thư thiện lương cứu người, ngươi lại ở đây bắt bẻ từng chữ. Có phải thấy người ta được Thẩm đại nhân nhớ nhiều năm nên trong lòng không dễ chịu không?”

Ta sửng sốt.

“Ta vì sao phải không dễ chịu?”

Người kia nói:

“Ganh ghét.”

Ta càng sửng sốt hơn.

“Ta ganh ghét nàng cõng người?”

“...”

Không khí lại yên tĩnh.

Nói thật, lúc đó ta thật sự không hiểu. Liễu Như Yên được người ta khen là ánh trăng sáng, còn ta chỉ là người đi ngang qua ăn bánh, hai chuyện này cách nhau xa như bếp sau Tạ phủ và long ỷ trong cung, sao bọn họ lại có thể kéo vào một chỗ được?

Nhưng người trong trà lâu hiển nhiên không nghĩ vậy.

Bọn họ bắt đầu nói ta thích nổi bật.

Nói ta không biết lễ nghĩa.

Nói ta vì lần trước bị Liễu Như Yên so xuống nên ôm hận trong lòng.

Ta nghe mà thấy rất mới mẻ.

Hóa ra chỉ hỏi người tám tuổi có cõng nổi người không, cũng có thể hỏi ra nhiều tội danh như vậy.

...

Đúng lúc ta đang cân nhắc xem có nên hỏi tiếp “nếu không cõng thì kéo đi được không”, trên lầu bỗng truyền xuống một giọng nói ôn hòa.

“Chư vị làm khó một cô nương như vậy, chẳng phải càng mất lễ nghĩa hơn sao?”

Ta ngẩng đầu.

Tống Ngọc Chi từ trên lầu đi xuống.

Hắn mặc áo xanh nhạt, trong tay cầm quạt xếp, dáng vẻ vẫn ôn hòa như thường. Người này có một loại bản lĩnh rất kỳ lạ, rõ ràng chỉ nói một câu, nhưng khiến người ta cảm thấy nếu tiếp tục cãi nữa thì chính mình mới là kẻ thô lỗ.

Hắn đi tới bên cạnh ta.

“Tạ cô nương chỉ thuận miệng hỏi, không có ác ý.”

Cô nương áo vàng không phục.

“Tống học sĩ sao biết nàng không có ác ý?”

Tống Ngọc Chi nhìn ta một cái, khẽ cười.

“Nếu nàng có ác ý, lời nói sẽ không nhẹ như vậy.”

Ta: “...”

Không biết vì sao.

Ta cảm thấy hắn đang khen ta.

Nhưng lại không hoàn toàn giống khen.

Tống Ngọc Chi không để ta tiếp tục bị vây ở đó, hắn rất tự nhiên gọi tiểu nhị tính tiền, lại thuận tay cầm gói bánh hạt sen còn chưa ăn hết của ta.

“Đi thôi.”

Ta đi theo hắn ra khỏi trà lâu.

Mưa xuân vừa tạnh, mặt đường còn ướt, gió thổi qua mang theo mùi bùn đất và hương rượu từ quán bên cạnh. Tống Ngọc Chi đưa gói bánh lại cho ta, giọng dịu xuống.

“Sau này ở nơi đông người, cô nương nên nói ít vài câu.”

Ta suy nghĩ một lát.

“Nhưng ta chỉ hỏi một câu.”

“Hỏi đúng câu người khác không muốn nghe, cũng là bản lĩnh.”

Ta nhìn hắn.

“Ngươi đang mắng ta sao?”

Hắn bật cười.

“Đang nhắc cô nương cẩn thận.”

Ta cảm thấy người này thật sự rất tốt.

Tốt đến mức đôi khi khiến người ta hơi không quen.

...

Chuyện ở trà lâu rất nhanh truyền tới phủ Thừa tướng.

Khi nha hoàn kể lại, Liễu Như Yên đang ngồi trước gương tháo trâm.

Nghe đến câu “một tiểu cô nương tám tuổi thật sự cõng nổi người sao”, động tác của nàng dừng lại.

Nha hoàn vội nói:

“Tiểu thư đừng để trong lòng, bên ngoài đều nói Tạ Thanh Ninh ganh ghét người.”

Liễu Như Yên nhìn gương đồng.

Trong gương, nàng vẫn đẹp, vẫn dịu dàng, vẫn là dáng vẻ không nên nhiễm bụi trần.

Một lát sau, nàng khẽ cười.

“Nàng ấy chỉ hỏi một câu thôi.”

Nha hoàn thở phào.

“Tiểu thư độ lượng.”

Liễu Như Yên đặt cây trâm xuống.

Tiếng trâm chạm bàn rất nhẹ.

Nhưng ánh mắt nàng trong gương lại lạnh đi từng chút một.

“Nhưng có những người.”

“Chỉ một câu.”

“Đã rất khiến người khác chán ghét.”

...

Sau hôm ấy, tin đồn càng lúc càng náo nhiệt.

Người ta nói Liễu Như Yên và Thẩm Hoài Cẩn là duyên trời định.

Người ta nói Thừa tướng rất hài lòng với vị con rể tương lai này.

Người ta còn nói Thẩm Hoài Cẩn tuy không chính miệng thừa nhận, nhưng cũng không hề phủ nhận.

Ta nghe xong cũng thấy hợp lý.

Dù sao người như Thẩm Hoài Cẩn, nhìn thế nào cũng giống kiểu người cả đời không biết nói câu dễ nghe. Hắn không phủ nhận chưa chắc là thừa nhận, có khi chỉ là lười mở miệng, nhưng người khác muốn hiểu thế nào thì lại là chuyện của người khác.

Chỉ có một chuyện khiến ta thấy kỳ lạ.

Dạo gần đây, ta thường xuyên nhìn thấy hắn.

Hôm trước ta đi mua hạt dưa, hắn đứng trước cửa tiệm thuốc đối diện.

Hôm qua ta đi ngang phố Đông, hắn đang nói chuyện với một lão bộc bán bánh.

Hôm nay ta vừa rời trà lâu, từ xa đã thấy bóng áo đen ấy đi về phía Đại Lý Tự.

Hắn không nhìn ta.

Ta cũng không gọi hắn.

Nhưng ta vẫn cảm thấy người này dạo gần đây xuất hiện hơi nhiều, giống như kinh thành bỗng nhiên nhỏ lại, nhỏ đến mức đi đâu cũng gặp phải gương mặt khiến người ta không vui.

Tống Ngọc Chi thấy ta nhìn về phía Đại Lý Tự, bèn hỏi:

“Cô nương đang nhìn gì?”

Ta thu mắt lại.

“Nhìn một người khó ưa.”

Hắn theo ánh mắt ta nhìn qua, không biết có thấy bóng Thẩm Hoài Cẩn hay không, chỉ nhẹ nhàng cười một tiếng.

“Thẩm đại nhân xưa nay lạnh nhạt, cô nương đừng để trong lòng.”

Ta gật đầu.

“Ta không để trong lòng.”

Dù sao ta và hắn cũng không quen.

Một người lạnh lùng, khó gần, không biết nói chuyện, lại không có vẻ gì thích xen vào chuyện người khác như Thẩm Hoài Cẩn, theo lý mà nói sẽ không liên quan gì đến cuộc đời ta.

Nghĩ vậy, ta quay đầu nhìn Tống Ngọc Chi.

Hắn vẫn đứng cạnh ta, tay áo còn vương mùi mưa nhàn nhạt, ánh mắt ôn hòa đến mức khiến người ta cảm thấy trên đời này quả thật vẫn còn rất nhiều người tốt.

Người tốt nhìn là biết người tốt.

Lúc ấy ta thật lòng nghĩ như vậy.

Nếu khi đó có người nói sau này ta sẽ nhìn nhầm người đến vậy, ta nhất định sẽ không tin.

Lên đầu trang