CHƯƠNG 6: KẺ KHÔNG CÒN GÌ ĐỂ MẤT

2,241 words · 12 min read

Bến Đông chỉ còn cách ta vài chục bước.

Ánh trăng đã hiện trên mặt nước, những chiếc thuyền neo ven bờ cũng đã ở ngay trước mắt, nhưng đúng lúc ấy, một vật cứng lạnh như sắt nện mạnh xuống sau gáy khiến cả bầu trời sao lẫn con đường sống trước mặt đồng thời vỡ nát.

Trước mắt ta tối sầm.

Nhà họ Tạ.

Cuối cùng cũng tới lượt ta.

1.

Ta và Vệ Hành rời khỏi nhà Phùng Tứ đúng lúc quan sai xuất hiện ở đầu ngõ; bọn họ đi không nhanh không chậm, áo công phục vẫn thẳng nếp như thể chỉ tới hoàn tất một việc đã có sẵn kết quả, còn Vệ Hành chỉ liếc nhìn một cái rồi kéo ta rẽ sang con hẻm bên cạnh.

Ta không quay đầu.

Chiều hôm ấy, trong quán trà phố Tây, ta nghe người ta bàn về vụ cháy ở phố Nam.

"Quan phủ vừa dán cáo thị rồi, hỏa hoạn ngoài ý muốn."

"Nhanh vậy?"

"Người cũng chết sạch rồi, còn điều tra gì nữa?"

Trong quán yên lặng một thoáng rồi lại rộn lên như cũ; tiếng trà chạm chén, tiếng hạt dưa vỡ giòn và tiếng mặc cả ngoài phố nhanh chóng lấp đầy khoảng trống vừa xuất hiện, giống như bốn mạng người kia chỉ là một đám khói đã tan theo gió.

Vệ Hành ngồi đối diện rất lâu mới thấp giọng nói:

"Ta cần đi xác minh một chuyện."

"Gặp lại ở đâu?"

"Tiểu viện cũ. Chiều tối mai."

Nói xong, hắn đặt mấy đồng tiền lên bàn rồi đứng dậy rời đi.

Ta nhìn theo bóng lưng hắn khuất dần giữa dòng người ngoài phố, còn ngoài cửa sổ, tờ cáo thị mới dán đang bị gió thổi phần phật, mép giấy liên tục đập vào vách gỗ.

Bốn mạng người.

Một tờ giấy.

Thế là xong.

2.

Đêm xuống, ta trở về tiểu viện; căn phòng vẫn nguyên như lúc rời đi, chỉ có mảnh giấy cháy dở, túi vải dầu của Lưu Kế và cây trâm bạc của Bạch Yên nằm im dưới ánh đèn dầu leo lét như những chứng nhân cuối cùng của một vụ án đã chết theo người chết.

Ta lật lại những ghi chép đã xem không biết bao nhiêu lần, nhìn nửa dấu son còn sót lại của Tài Bạc Đường rồi khép mắt suy nghĩ, nhưng đúng lúc ấy, ngoài sân bỗng vang lên một tiếng chó sủa ngắn ngủi, tiếp đó là tiếng bước chân đều đều trên hành lang và bất ngờ dừng lại trước cửa phòng.

Ngọn đèn lập tức tắt phụt.

Ta nhét toàn bộ giấy tờ vào ngực áo, giấu dao vào tay áo, thuận tay để lại một dấu khắc cực nhỏ trên mép bàn rồi đẩy cửa sổ.

Gió đêm vừa ùa vào, cánh cửa phía sau đã bị người ta đạp tung; ta lộn người qua khung cửa, bám lấy mái hiên rồi thả mình xuống tầng dưới ngay trước ánh mắt của mấy bóng đen đang ngẩng đầu nhìn lên từ khoảng sân tối.

"Là hắn!"

Tiếng quát vừa vang lên, viên ngói dưới chân đã vỡ nát, còn cả tiểu viện phía sau đồng loạt sáng đèn.

3.

Vừa chạm xuống mái hiên tầng dưới, ta đã lăn vào con ngõ phía sau tiểu viện; sau lưng lập tức vang lên tiếng quát, tiếng ngói vỡ cùng những âm thanh xé gió cực khẽ đang nhanh chóng áp sát, buộc ta phải liên tục đổi hướng qua những con hẻm tối, xuyên qua khu chợ đêm phía nam rồi lẫn vào dòng khách vừa bước ra khỏi tửu lâu giữa tiếng đàn hát và tiếng cười nói chưa từng ngơi nghỉ.

Nhưng càng chạy, ta càng nhận ra mình chưa từng thoát khỏi tầm mắt của chúng; từ gã bán bánh đang dọn hàng, tiểu nhị trước cửa tửu lâu cho tới đứa bé ăn xin dưới chân cầu, tất cả những ánh mắt tưởng như vô tình ấy đều đang âm thầm truyền đi tung tích của ta, khiến bất kể rẽ sang con phố nào, phía trước cũng luôn có người chờ sẵn.

Một cơn gió từ phía đông bất chợt thổi tới mang theo mùi nước sông, còn ánh trăng phản chiếu trên mặt nước cũng đã thấp thoáng hiện ra giữa những mái nhà phía trước, nhưng ngay khi bước tới cuối con ngõ, ta mới thấy lối ra bến Đông đã bị chặn kín bởi những bóng đen đang lặng lẽ hiện ra từ mái nhà, bờ tường và các góc tối hai bên đường, trong khi phía sau lưng, vòng vây cũng nhanh chóng khép lại.

Ta siết chặt chuôi dao rồi lao thẳng về phía trước; tên áo đen đứng đầu chỉ chậm nửa nhịp đã bị lưỡi dao rạch qua cánh tay, nhưng còn chưa kịp mở đường máu, một vật cứng lạnh như sắt đã nện mạnh xuống sau gáy khiến ánh trăng trên mặt nước, những bóng người đang ép tới và cả lối thoát ngay trước mắt đồng thời vỡ nát rồi chìm vào bóng tối.

Bến Đông chỉ còn cách vài chục bước.

Nhưng ta không thể đi hết quãng đường ấy.

4.

Khi tỉnh lại, mắt ta đã bị bịt kín, hai tay trói ra sau lưng, sau gáy vẫn âm ỉ đau vì cú đánh ở bến Đông; không khí ẩm nặng mùi nước sông, trong đó lẫn mùi cỏ khô, dầu đèn và hàng hóa chất đầy trong kho, còn bên ngoài là tiếng dây chão va vào mạn thuyền, tiếng xe hàng nghiến trên ván gỗ cùng tiếng người gọi nhau bốc dỡ không ngớt, đủ để ta đoán mình đang bị nhốt trong một kho hàng lớn gần bến nước.

Giữa trưa, cửa kho mở ra.

Người bước vào là một lão giả có giọng nói ôn hòa; ông ta nhắc tới Phùng Tứ, Bạch Yên và cuốn sổ mất tích rồi khuyên ta nên nói ra những gì mình biết, bởi những kẻ đứng phía sau chuyện này không phải người mà một thiếu niên có thể đối đầu.

Ta không đáp.

Lão giả khẽ thở dài rồi đứng dậy.

"Ta cho ngươi một ngày."

Cửa kho khép lại.

Từ đó về sau không còn ai bước vào nữa; việc bọn chúng giữ ta sống tới lúc này có lẽ chỉ vì muốn xác nhận xem Phùng Tứ và Lưu Kế có thực sự để lọt thứ gì ra ngoài hay không, nhưng một khi đáp án đã rõ ràng thì kẻ như ta sống thêm một ngày hay chết sớm một ngày cũng chẳng còn khác biệt.

Ta nằm yên nghe tiếng xe hàng ra vào, tiếng người đổi gác và tiếng khóa sắt đóng mở từ nhiều hướng, đủ để biết quanh đây không chỉ có một gian kho mà là cả một khu kho bãi lớn với không ít người canh giữ; còn ngoài những âm thanh ấy, xung quanh gần như không có bất kỳ động tĩnh sinh hoạt nào, chứng tỏ nơi này nằm khá xa khu dân cư.

Đến lúc tiếng gà báo canh ba vọng tới từ xa, ta biết mình không thể chờ thêm nữa; dựa theo hơi nóng yếu ớt trong bóng tối, ta men theo bức tường lần tới góc kho rồi kéo đôi tay bị trói áp sát ngọn đèn dầu đang cháy leo lét, mặc cho mùi cháy khét bốc lên cùng cơn đau bỏng rát xuyên thẳng vào da thịt, cho tới khi sợi dây cuối cùng cũng bật đứt.

Ta giật mạnh tấm vải bịt mắt xuống.

Cũng đúng lúc ấy, chiếc đèn dầu bị hất đổ.

Ngọn lửa ban đầu chỉ bén vào một góc cỏ khô, nhưng vừa chạm tới lớp vải dầu chất bên cạnh đã lập tức bùng lên dữ dội, lao dọc theo những kiện hàng xếp sát nhau rồi nhanh chóng nuốt trọn cả góc kho.

Tiếng hô hoán lập tức vang lên bốn phía.

Khói đen cuồn cuộn tràn xuống, một thanh xà gỗ đang cháy bất ngờ đổ sập trước mặt khiến ta phải lăn sang bên tránh né rồi xé một mảnh vải quấn kín miệng mũi, bò sát theo chân tường giữa sức nóng bỏng rát và những đống hàng đang cháy dở.

Đến khi nhìn thấy ánh sáng từ cửa kho phía trước, ta gần như lao tới bằng chút sức lực cuối cùng; đúng lúc ấy, một góc mái kho bị lửa thiêu sập khiến bên ngoài hoàn toàn hỗn loạn, kẻ cứu hàng, kẻ cứu lửa, kẻ truy bắt người, còn ta nhân lúc vòng vây bị xé mở mà lao ra ngoài.

Ta cứ thế chạy xuyên màn đêm cho tới khi tiếng truy đuổi phía sau hoàn toàn biến mất, hai chân không còn cảm giác và cơn đói khát lẫn những vết bỏng gần như rút cạn chút sức lực cuối cùng.

Bên cạnh một rãnh nước ven đường, ta quỵ xuống.

Trước khi ý thức hoàn toàn chìm vào bóng tối, thứ cuối cùng còn đọng lại trong mắt chỉ là mặt trăng đang chập chờn phản chiếu trên mặt nước đục ngầu.

5.

Khi mở mắt lần nữa, mặt trời đã vượt qua đỉnh núi nhưng sương sớm vẫn còn lững lờ giữa rừng, đống lửa bên cạnh chỉ còn những tàn than đỏ âm ỉ dưới nồi canh đang bốc khói, còn Vệ Hành thì ngồi cách đó không xa với trường kiếm đặt ngang đầu gối.

Mùi thuốc đắng vẫn còn vương trong không khí, hai cổ tay cùng bả vai ta đều đã được băng bó qua loa.

Thấy ta tỉnh lại, hắn đưa sang một bát canh nóng.

Ta uống vài ngụm rồi ngẩng đầu hỏi:

"Ngươi tìm được ta thế nào?"

Vệ Hành nhìn đống lửa trước mặt rất lâu mới đáp:

"Ta vốn định chiều hôm sau mới quay lại, nhưng đi được nửa đường lại thấy không yên tâm nên làm xong việc liền trở về; tới Tiểu viện thì phòng ngươi đã bị lục tung, trên bàn còn ám hiệu để lại, lần theo dấu vết tới bến Đông lại mất dấu, mãi tới khi nhìn thấy đám cháy mới chạy tới nơi."

Ánh mắt hắn lướt qua những vết bỏng trên tay ta.

"Khi đó nhặt được nửa cái mạng của ngươi."

Ta cười khàn một tiếng.

"Khi bị bắt ở bến Đông, một chân ta đã bước vào Quỷ Môn Quan rồi; đêm đó nếu không liều một phen, e rằng bây giờ người nằm trong đống tro kia chính là ta."

Vệ Hành im lặng hồi lâu rồi mới hỏi:

"Ngươi thật sự không sợ chết?"

Ta lắc đầu.

"Ta chỉ biết nếu nằm yên chờ đợi thì chắc chắn sẽ chết."

Một cơn gió núi thổi qua, đống than đỏ khẽ bùng lên rồi lại lụi xuống.

Ta nhìn hắn.

"Thật ra ngươi không cần quay lại."

Vệ Hành khựng lại trong giây lát rồi bình thản đáp:

"Nhưng ta đã quay lại."

Ta bật cười.

"Cho nên bây giờ ta vẫn còn sống."

Lần này hắn không nói gì nữa, chỉ cúi đầu nhìn đống lửa, nhưng ánh mắt đã dịu đi hơn rất nhiều.

Một lúc lâu sau, hắn mới thấp giọng:

"Ngươi còn sống là tốt rồi."

Ăn xong, Vệ Hành đứng dậy xóa sạch dấu vết quanh khu rừng rồi dẫn ta rời đi; cơn đau từ những vết bỏng lan khắp toàn thân theo từng bước chân, nhưng ta vẫn cắn răng bước tiếp, còn hắn thì đi trước mở đường giữa màn sương chưa tan hết trên lối lên núi.

Nơi dừng chân mới là một ngôi miếu Sơn Thần cũ nát nằm sâu trong núi, nhìn từ bên ngoài chẳng khác gì một phế miếu bị bỏ hoang nhiều năm, nhưng bên trong lại được dọn dẹp sạch sẽ, chăn đệm, thuốc men và lương khô đều không thiếu, rõ ràng đã có người chuẩn bị từ trước.

Những ngày dưỡng thương ở đó, Vệ Hành thường rời đi từ lúc trời còn chưa sáng và chỉ trở về khi đêm đã khuya; hắn không nói mình đi đâu, ta cũng không hỏi, nhưng lớp bụi đường ngày một dày trên vạt áo cùng chồng giấy tờ liên tục tăng thêm trước mặt hắn đã đủ cho thấy vụ cháy ở bến Đông không hề kết thúc cùng ngọn lửa đêm ấy.

Đến khi những vết thương trên người ta bắt đầu ăn da non, Vệ Hành mới ngẩng đầu khỏi đống hồ sơ trước mặt. Hai hàng lông mày giãn ra.

Hắn nhìn ta rất lâu rồi gọi:

"Trường An."

Ta ngẩng đầu.

Vệ Hành đặt một tờ giấy xuống giữa hai người.

"Lần tắm lửa này của ngươi thật không vô ích. Ta đã lần được tuyến hàng của cái kho kia rồi."

Hắn dừng lại một thoáng rồi chậm rãi nói tiếp:

"Nhưng điều kỳ lạ nhất là cho tới bây giờ vẫn không ai biết đám người ấy thực sự đang buôn bán thứ gì."

Ngoài miếu, gió núi lùa qua khe cửa làm ngọn đèn dầu khẽ rung lên, còn trong gian điện nhỏ chỉ còn lại sự im lặng nặng nề giữa hai chúng ta.

Lên đầu trang