CHƯƠNG 9: NGƯỜI TRONG TRANG VIÊN

1,738 words · 9 min read

1.

Mọi người đều nói vụ án đã kết thúc.

Chỉ có ta không ngủ được.

Sau khi Hắc Hổ Đường sụp đổ, Giang Nam giống như một người bệnh nằm liệt giường quá lâu cuối cùng cũng có thể xuống giường bước đi trở lại; những con phố từng vắng lặng vì lời đồn và nỗi sợ dần đông đúc trở lại, tửu lâu sáng đèn tới tận khuya, tiếng chén đũa va nhau hòa cùng tiếng cười nói vọng ra từ những ô cửa mở rộng, thương nhân nối nhau trở về, gánh hàng rong lại xuất hiện ở đầu phố cuối ngõ, còn trong các quán trà, người ta vừa nhấp một ngụm trà nóng vừa kể chuyện Hắc Hổ Đường như kể về một cơn ác mộng đã qua.

Ngay cả quan phủ cũng nhẹ nhõm hơn nhiều. Những công văn chất đống nhiều tháng được giải quyết từng việc một, nha dịch không còn phải chạy ngược chạy xuôi giữa đêm, sắc mặt các vị quan vốn căng thẳng suốt thời gian dài cũng giãn ra đôi chút. Dường như trong mắt mọi người, cơn bão đã thật sự đi qua, những kẻ đáng bắt đều đã bị bắt, những kẻ đáng chết đều đã chết, còn vụ án từng làm rung chuyển cả Giang Nam cuối cùng cũng được phủ lên một dấu son kết thúc.

Vài ngày sau, ta mang hương nến tới nghĩa trang ngoài thành.

Mùa đã đổi.

Cỏ dại quanh hai nấm mộ cũ lại cao hơn lần trước ta tới. Ta ngồi xổm xuống nhổ từng bụi cỏ, quét sạch lá khô bị gió thổi dạt tới, thay tro trong bát hương rồi châm lửa đốt nhang. Khói trắng lững lờ bay lên giữa gió sớm, quanh quẩn trước bia đá hồi lâu mới chậm rãi tan vào không trung.

Ta quỳ trước mộ rất lâu.

Năm năm trước, khi rời khỏi Giang Nam ta từng nghĩ mình sẽ không còn cơ hội quay về. Năm năm sau, ta cuối cùng cũng tìm được chân tướng về cái chết của cha ta, nhưng khi thật sự đứng trước hai tấm bia đá quen thuộc này, ta lại phát hiện có những lời vẫn mắc nghẹn trong cổ họng.

Bởi vẫn còn một người chưa trở về.

Năm năm qua, ta đã nhìn thấy quá nhiều thi thể, quá nhiều kết cục bi thảm, quá nhiều hy vọng bị dập tắt giữa đường, nhưng vẫn không thể ép bản thân tin rằng Tiểu Nguyệt cũng nằm trong số đó. Chỉ cần chưa tận mắt nhìn thấy, ta vẫn còn có thể chờ.

Gió nhẹ thổi qua sườn đồi.

Hai làn khói hương chậm rãi bay lên trước mộ.

Ta cúi đầu vái ba vái.

"Cha."

"Mẹ."

"Đợi thêm một chút."

"Con nhất định sẽ đưa muội ấy về."

  1. Ba ngày sau.

Tin Tần Vạn Kim chết trong ngục truyền ra khắp Giang Nam.

Nghe nói bệnh cũ tái phát.

Nghe nói mấy ngày trước còn ho ra máu.

Nghe nói ngục tốt đã mời đại phu tới xem qua.

Quan phủ vốn còn muốn giữ mạng hắn để chờ ngày chịu án, nhưng bệnh tình đã đến mức dầu cạn đèn tắt. Đại phu thay nhau ra vào ngục thất, thuốc men chưa từng thiếu, song ngọn đèn sắp tắt vẫn cứ lụi dần từng ngày, cuối cùng không ai giữ lại được nữa.

Tin tức truyền tới.

Người nghe chỉ gật đầu.

Rồi tiếp tục việc đang làm.

Dù sao những cuốn sổ cần mở đều đã mở, những lời khai cần lấy đều đã lấy, những kẻ cần bắt hoặc đã bị áp giải về kinh, hoặc đã chết dưới cuộc truy quét kéo dài suốt gần hai tháng; đối với phần lớn người trong cuộc, Tần Vạn Kim lúc ấy chẳng qua chỉ còn là một phạm nhân chờ ngày hành hình, sống thêm vài tháng hay chết sớm vài ngày cũng không làm thay đổi được kết cục đã định.

Giang Nam rất nhanh bị những chuyện khác cuốn đi.

Một người chèo đò ở bến phía nam uống rượu quá chén rồi ngã xuống sông.

Một kho hàng gần bến Đông cháy giữa đêm, lửa chỉ thiêu đúng một gian nhà chứa đồ cũ.

Một lão bộc già làm việc hơn hai mươi năm trong một đại hộ xin nghỉ hồi hương dưỡng lão.

Một quyển sổ thất lạc ba ngày rồi lại được tìm thấy trong kho, chỉ thiếu vài trang giấy.

Một nhân chứng rời khỏi nơi ở mà không để lại thư từ hay hành lý.

Một bức tường cũ trong ngõ bị phá đi để mở rộng cửa hàng.

Người bán vàng mã đầu phố còn thuận miệng than rằng gần đây có một vị khách quen không thấy tới nữa.

Từng chuyện đều rất nhỏ.

Nhỏ tới mức vừa được nhắc tới đã nhanh chóng chìm giữa tiếng người trên phố.

Ta cũng không biết từ lúc nào mình bắt đầu nhớ những chuyện ấy.

Có lẽ vì chúng xuất hiện quá gần nhau.

Cũng có lẽ vì mỗi lần nghe xong, trong lòng ta luôn sinh ra một cảm giác kỳ lạ, giống như nhìn thấy mặt hồ đang phẳng lặng bỗng nổi lên một vòng sóng nhỏ, chưa kịp tan đi đã có vòng sóng khác xuất hiện, nhưng khi cúi xuống tìm kiếm nguồn gốc, mặt nước vẫn yên tĩnh như chưa từng xảy ra chuyện gì.

Ngay cả Vệ Hành cũng ít nói hơn trước.

Có lần hắn cầm một phần hồ sơ đứng bên cửa sổ suốt nửa ngày, ánh mắt dừng trên những hàng chữ đã bị xem đi xem lại không biết bao nhiêu lần, cuối cùng vẫn chỉ lặng lẽ khép hồ sơ lại.

Ta hỏi hắn đang nhìn cái gì.

Hắn suy nghĩ rất lâu.

Rồi lắc đầu.

"Không biết."

Buổi chiều hôm ấy, ta cùng Vệ Hành tới trang viên của Thẩm Quan Lan.

Mặt trời đã ngả về phía tây, ánh chiều vàng nhạt rơi xuống mặt hồ trong viện rồi bị gió nhẹ xé thành những gợn sóng lăn tăn; mấy con cá chép đỏ chậm rãi bơi dưới đám lá sen cuối mùa, thỉnh thoảng quẫy đuôi làm mặt nước rung lên một vòng tròn nhỏ rồi rất nhanh lại trở về vẻ tĩnh lặng ban đầu.

Trang viên vẫn giống hệt những gì ta nhớ, sạch sẽ, yên bình, tách biệt khỏi mọi huyên náo ngoài thành; nếu không tận mắt chứng kiến cuộc truy quét kéo dài suốt hai tháng qua, rất khó tưởng tượng chỉ cách nơi này không xa, cả Giang Nam vừa trải qua một trận phong ba đủ để làm thay đổi vận mệnh vô số người.

Thẩm Quan Lan đích thân ra đón chúng ta.

Ông vẫn mặc nho sam màu nhạt như thường ngày, thần sắc ôn hòa, nụ cười vừa đủ, không gần quá cũng không xa quá, khiến bất kỳ ai đối diện cũng khó lòng sinh ra cảnh giác.

Bàn trà được đặt dưới gốc cây già cạnh hồ, nước trà vừa pha, hương trà nhàn nhạt theo hơi nóng bốc lên giữa ánh chiều đang dần nhạt đi.

Chúng ta ngồi xuống.

Câu chuyện ban đầu chỉ xoay quanh những việc rất bình thường: chiến sự đã kết thúc, một vài châu phủ đang sửa lại đường sá, thương nhân bắt đầu trở về, giá lương thực cũng ổn định hơn trước; Thẩm Quan Lan nói không nhanh không chậm, thỉnh thoảng lại nhắc tới vài chuyện dân sinh trong thành, giống hệt một vị thân sĩ vẫn luôn quan tâm tới thế cuộc.

Cho tới khi Vệ Hành đặt chén trà xuống.

"Thẩm tiên sinh gần đây ngủ có ngon không?"

Ta hơi ngẩng đầu nhìn hắn.

Câu hỏi ấy nghe chẳng có gì đặc biệt, nhưng không hiểu sao lại xuất hiện vào lúc này.

Thẩm Quan Lan mỉm cười.

"Tuổi tác lớn rồi, ngủ không sâu như lúc trẻ, nhưng vẫn coi là tạm được."

Vệ Hành gật đầu.

Thẩm Quan Lan bật cười.

"Ngươi tới tận đây chỉ để hỏi chuyện đó?"

"Ta thấy tiên sinh gầy đi."

"Gần đây nhiều việc."

"Giờ thì hết việc rồi."

Thẩm Quan Lan không đáp ngay.

Ông đưa mắt nhìn ra mặt hồ phía trước.

Ánh chiều cuối ngày xuyên qua những tán cây già ven bờ, đổ xuống mặt nước thành từng mảng sáng tối loang lổ; gió khẽ thổi qua, bóng lá rung động, những vệt nắng vàng cũng theo đó vỡ vụn thành vô số mảnh nhỏ, chậm rãi trôi giữa mặt hồ đang dần chìm vào hoàng hôn.

Một chiếc lá vàng từ trên cành rơi xuống.

Mặt nước khẽ gợn.

Những vòng sóng nhỏ lan ra rồi tan biến.

"Đúng vậy."

Thẩm Quan Lan khẽ cười.

"Cuối cùng cũng hết việc rồi."

Không ai nói thêm gì nữa.

Khoảng sân bỗng trở nên yên tĩnh lạ thường.

Vệ Hành chậm rãi đứng dậy, động tác nhẹ tới mức giống như chỉ muốn duỗi người sau khi ngồi quá lâu.

Nhưng đúng khoảnh khắc ấy, ngoài bức tường viện bỗng vang lên một tiếng kim loại va chạm.

Keng.

Ngay sau đó là vô số âm thanh đồng thời nối tiếp.

Tiếng giáp trụ cọ vào nhau.

Tiếng bước chân chỉnh tề dẫm lên nền đất.

Tiếng trường đao rời vỏ.

Ta vô thức quay đầu nhìn lại.

Từng lớp người lặng lẽ xuất hiện giữa bóng chiều đang xuống, khóa chặt mọi lối ra vào của trang viên.

Không ai hô bắt, cũng không ai quát tháo.

Quan phục Đại Lý Tự, cẩm y của Cẩm Y Vệ, áo bào Thiên Cơ Các đan kín quanh tường viện, không để lọt một khe hở.

Ba thế lực cùng lúc xuất hiện.

Im lặng.

Nhưng áp lực lại nặng nề như cả một ngọn núi đang chậm rãi đè xuống cả trang viên.

Thẩm Quan Lan đặt chén trà xuống.

Tiếng sứ chạm mặt bàn rất khẽ, nhưng trong khoảng sân đang yên tĩnh đến nghẹt thở ấy lại giống như một hòn đá nhỏ rơi vào mặt hồ, khiến ánh mắt của tất cả mọi người đồng thời dồn về phía ông.

Người cuối cùng ta từng nghĩ tới.

Lại là người đang ngồi trước mặt ta.

Lên đầu trang